Viêm não tự miễn là gì? Có chữa được không?

Viêm não là một tình trạng viêm của mô não và hiếm xảy ra, ước tính có khoảng 1 trên 200.000 người mỗi năm ở Hoa Kỳ. Khi mắc bệnh viêm não thì rất nặng nề, người bệnh sẽ thay đổi tính cách, co giật, yếu liệt hoặc những triệu chứng khác tùy thuộc vào vùng não bị tổn thương.

Trẻ em, người già và những người bị suy yếu hệ thống miễn dịch thường dễ mắc bệnh. Bệnh viêm não thường gây ra bởi một trong số các virus truyền nhiễm và đôi khi người ta gọi là viêm não virus. Rất nhiều người bị viêm não sẽ hồi phục hoàn toàn mà không có dị chứng nào.

Thực tế, có một loại bệnh viêm não mà việc chẩn đoán thường trễ do nhầm với bệnh tâm thần. Người ta cho rằng viêm não cũng là hậu quả của quá trình nhiễm trùng trước đó, cơ thể bị kích thích tạo ra một loại kháng thể và tự kháng thể này gây ra tổn thương ở não. Bệnh viêm não này hay gặp ở phụ nữ bị u quái buồng trứng nên còn được giả thuyết là u quái khởi phát tình trạng viêm não.

Viêm não kháng thụ thể NMDA hay viêm não tự miễn là gì?

Viêm não liên quan đến kháng thụ thể N-methyl-D-aspartat (NMDA) là một bệnh được mô tả lần đầu năm 2007. Ban đầu, người ta nghĩ đây là một bệnh do tân sinh vì nó xảy ra ở phụ nữ trẻ bị u quái buồng trứng nhưng sau này còn gặp ở trẻ em và người lớn có hoặc không có khối u.

viêm não tự miễn điều trị

Yếu tố khởi phát miễn dịch trong viêm não tự miễn

Bệnh này gây quan tâm của truyền thông sau khi quyển sách “Não trong lửa” của Susannah Cahalan dựng thành phim. Theo Dalmau, người đầu tiên mô tả viêm não kháng thụ thể NMDA thì câu trả lời bắt đầu được khám phá từ tháng 12.2003 sau khi một phụ nữ trẻ viêm não không biết được nguyên nhân, bệnh nhân nằm trong khoa săn sóc đặc biệt nhiều tuần lễ.

Bệnh nhân được đưa vào viện do thay đổi đột ngột hành vi và các triệu chứng tâm thần xảy ra nhanh chóng. Tất cả các xét nghiệm đều không có gì ngoài u quái nhỏ ở buồng trứng, người ta cho rằng khối u này không liên quan đến bệnh và tình trạng xấu về lâm sàng. Bệnh nhân được sử dụng liệu pháp miễn dịch theo kinh nghiệm và cuối cùng phục hồi được.

Sau đó thì người ta cũng thành công với 3 phụ nữ trẻ bị u quái buồng trứng với liệu pháp miễn dịch khi những bệnh nhân này bị viêm não với triệu chứng tâm thần và giảm thông khí. Mặc dù ghi nhận được các triệu chứng tương tự trong 4 bệnh nhân và tình trạng lâm sàng của viêm não liên quan đến miễn dịch nhưng xét nghiệm máu và dịch não tủy không có kháng thể nào đặc biệt. Mãi 6 tháng sau người ta mới xác định được kháng nguyên NMDA.

Đối với viêm não kháng NMDA thì hay chậm trễ trong chẩn đoán do thiếu thông tin và kinh nghiệm lâm sàng về bệnh, hơn nữa sự hiện diện của các triệu chứng tâm thần kinh thường gây ra chẩn đoán nhầm sang các bệnh về tâm thần.

Sinh bệnh học của viêm não tự miễn

Trong bệnh viêm não kháng NMDA, tự kháng thể IGG tác động trực tiếp lên tiểu đơn vị GluN1a của thụ thể NMDA. NMDA là một thụ thể iontropic glutamat mà khi nó hoạt hóa sẽ đưa đến hoạt hóa kênh ion natri và calci. Các thụ thể glutamat được hoạt hóa khi nhiều phản ứng liên tiếp xảy ra gần đồng thời. Sự khử cực đầu tiên là kết quả của thoát magne để duy trì thụ thể NMDA không hoạt động. Việc mở kênh và vận chuyển ion natri và calci tạo ra sự hoạt hóa thụ thể NMDA.

Các đồng vận thụ thể NMDA như phencyclidin được biết rõ là gây ra triệu chứng tương tự như tâm thần phân liệt. Các thụ thể NMDA được nghĩ là sinh bệnh học của tâm thần phân liệt ở cả hai thể bệnh kích thích hoặc ức chế.

Bình thường glutamat sẽ kích thích thụ thể NMDA ở các tế bào thần kinh gây giải phóng GABA và ngược lại ức chế phóng thích dopamin. Trong viêm não kháng thụ thể NMDA, kháng thể sẽ che khuất các thụ thể này đưa đến hấp thu từ bề mặt tế bào và tình trạng giảm chức năng của thụ thể NMDA.

Các giai đoạn biểu hiện của viêm não tự miễn

Bệnh có xu hướng xảy ra ở những người dưới 45 tuổi, tỉ lệ nam nữ là 1:4 với mối liên quan đến u quái buồng trứng (chiếm đến 50% bệnh nhân trên 18 tuổi). Bệnh diễn tiến qua 4 giai đoạn chính:

Giai đoạn tiền triệu: bệnh nhân bị đau đầu hoặc sốt nhiễm virus (đau đầu, triệu chứng hô hấp và đường ruột) thường gặp ở 80% các trường hợp.

Giai đoạn bệnh:

  • Pha tâm thần kinh xảy ra khoảng 2 tuần lễ sau, các triệu chứng gồm: ảo giác, rối loạn nhận thức, hành vi bất thường, lo âu, sự hãi, giảm nhận thức, giọng nói và diễn đạt bất thường, có thể nói nhảm. Đối với trẻ em thì thường biểu hiện vui buồn bất thường, kích thích tinh thần, thay đổi hành vi, rối loạn giấc ngủ, tăng động.
  • Biến chứng thần kinh: những vận động bất thường, giảm động ở vùng mặt, mất trương lực tư thế, mất thăng bằng, một số trường hợp thở chậm phải hỗ trợ hô hấp. Co giật cục bộ hay toàn thể chiếm đến 25% ở bệnh nhân nữ giữa 18 – 45 tuổi với cơn động kinh mới.

Giai đoạn hồi phục hoặc tái phát: một số bệnh nhân kéo dài thời gian mắc bệnh nhưng có thể cải thiện về thần kinh. Chức năng nhận thức và tâm thần chậm cải thiện nhất. Viêm não kháng thụ thể NMDA có tỉ lệ tái phát từ 20 – 25%.

Giai đoạn sau: khoảng 85% bệnh nhân hồi phục hoàn toàn về những bất thường hành vi cũng như nhận thức khi xuất viện. Có thể có khiếm khuyết về hành vi, rối loạn giấc ngủ, kích thích,…

viêm não tự miễn

Tổn thương trong viêm não tự miễn trên cộng hưởng từ

Bởi vì có đến 50% phụ nữ bị viêm não kháng thụ thể NMDA có u quái buồng trứng nên một trong những giả thuyết về mô thần kinh ở u quái tác động như là một yếu tố khởi phát miễn dịch.

Có thể kháng nguyên giải phóng bởi tế bào khối u đã trình diện cho hệ miễn dịch ở hạch lympho vùng, nơi tế bào nhớ B (memory B cell) được sinh ra, tạo ra kháng thể. Các tế bào nhớ này sau khi xuyên qua hàng rào máu não, trải qua quá trình trưởng thành trong các tế bào huyết tương tạo kháng thể. Các tế bào huyết tương tiếp tục tổng hợp kháng thể trong hệ thần kinh trung ương.

Một yếu tố khởi phát miễn dịch khác có thể là kháng nguyên virus Herpes simplex, khoảng 20% bệnh nhân viêm não Herpes simplex có kháng thể chống thụ thể NMDA

Chẩn đoán và điều trị bệnh viêm não tự miễn

Việc chẩn đoán bệnh ngoài việc dựa vào các dấu hiệu lâm sàng sẽ dựa vào một số cận lâm sàng:

– Xét nghiệm dịch não tủy tìm kháng thể IgG kháng GluN1 của thụ thể NMDA.

– Chụp cộng hưởng từ não (MRI): 50% các trường hợp không phát hiện bất thường. Nếu phát hiện tổn thương vùng hải mã thì bệnh có tiên lượng xấu.

– Đo điện não đồ: 90% các trường hợp có bất thường.

– Xét nghiệm máu: phát hiện tự kháng thể.

Việc điều trị viêm não kháng thụ thể NMDA bắt đầu với cắt bỏ khối u (nếu có), chăm sóc hỗ trợ và liệu pháp miễn dịch.

– Corticosteroid, imunoglobulin tĩnh mạch, thay huyết tương được sử dụng đầu tiên.

– 80% bệnh nhân có khối u sẽ cải thiện sau khi cắt khối u và liệu pháp miễn dịch.

– Rituximab hoặc cyclophosphamid (hoặc cả hai) thường cần thiết trong trường hợp không có khối u. 48% đáp ứng ở liệu pháp miễn dịch bước đầu và 65% đáp ứng ở liệu pháp miễn dịch bước hai.

TS.BS. Bùi Minh Trạng

Menu