Thuốc chẹn beta trong điều trị tăng huyết áp

Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ (AHA) xác định tăng huyết áp khi các chỉ số đo được bằng hoặc trên 130/80mmHg, còn hướng dẫn của Hiệp hội Tim mạch và tăng huyết áp châu Âu (ESC/ESH) khuyến nghị các mục tiêu huyết áp nên dưới 140/90mmHg ở tất cả các bệnh nhân và giảm xuống còn 130/80mmHg hoặc thấp hơn ở bệnh nhân dưới 65 tuổi.

Nền tảng của việc quản lý tăng huyết áp là thay đổi lối sống bao gồm giảm cân nếu người bệnh thừa cân hoặc béo phì, tuân thủ chế độ ăn uống lành mạnh cho tim, giảm natri, bổ sung kali, bỏ hút thuốc lá, hoạt động thể chất thường xuyên và giảm tiêu thụ rượu. Thay đổi lối sống một cách tích cực có thể giúp trì hoãn việc điều trị bằng thuốc, đặc biệt ở những bệnh nhân tăng huyết áp nguy cơ thấp.

Tuy nhiên, đa số bệnh nhân tăng huyết áp sẽ cần điều trị bằng thuốc ngoài việc điều chỉnh lối sống để huyết áp được kiểm soát tối ưu.

thuốc chẹn beta trong tăng huyết áp
Có nhiều nhóm thuốc trị cao huyết áp, vì vậy, người bệnh chỉ được dùng thuốc khi có sự chỉ định của bác sĩ.

Trước đây, chiến lược điều trị tăng huyết áp thường được bắt đầu với một thuốc duy nhất, sau đó mới đánh giá và bổ sung thêm các thuốc khác. Sau này, các hướng dẫn khuyến nghị nên bắt đầu điều trị bằng hai thuốc hạ huyết áp từ các nhóm thuốc có tác dụng dược lý khác nhau.

Các thuốc ưu tiên hàng đầu bao gồm thuốc lợi tiểu thiazid, thuốc ức chế men chuyển angiotensin, thuốc ức chế thụ thể angiotensin (ARB) và thuốc chẹn kênh calci (CCBs), trong khi việc sử dụng thuốc chẹn beta thường dành chỉ định cho bệnh nhân mắc bệnh tim mạch cụ thể.

ESC/ESH tuyên bố rằng các thuốc chẹn beta có thể được xem xét ở bất kỳ bước điều trị nào khi có chỉ định cụ thể cho việc sử dụng chúng, chẳng hạn như suy tim, đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, rung tâm nhĩ hoặc ở phụ nữ có kế hoạch mang thai hoặc sinh con mang tiềm năng.

Nhóm thuốc chẹn beta có tác động ức chế hoạt động của các chất dẫn truyền thần kinh adrenalin và noradrenalin thông qua cơ chế chẹn thụ thể beta, ngăn chặn các chất này gắn vào thụ thể β1 (beta-1) và β2 (beta-2) của tế bào thần kinh giao cảm, do đó có tác dụng làm chậm nhịp tim, giãn mạch máu, giảm huyết áp, co thắt phế quản…

Thụ thể β1 có ở tim, mắt, thận, thụ thể β2 có ở phổi, đường tiêu hóa, tử cung, mạch máu, cơ vân. Tùy theo vị trí tác động trên thụ thể nào, thuốc ức chế beta sẽ có tác dụng tương ứng.

Trong điều trị bệnh tim mạch, các thuốc nhóm chẹn beta đều phát huy vai trò tác dụng, song cơ chế tác dụng của thuốc ức chế beta có thể khác nhau dựa trên từng phân nhóm:

Phân nhóm 1 (gồm atenolol, bisoprolol, metoprolol)

Tác động chẹn chọn lọc chủ yếu trên thụ thể beta-1 nên tác dụng chính bao gồm làm chậm nhịp tim, giảm co thắt, giảm cung lượng tim, giảm huyết áp (tác dụng đầu nguồn).

Vì cơ chế này mà thuốc ức chế beta nhóm 1 có hiệu quả hạ huyết áp nhanh, mạnh nhưng cũng đồng thời làm chậm nhịp tim, không có lợi cho những người nhịp tim chậm.

Phân nhóm 2 (gồm propranolol, nadolol, timolol)

Có tác động chẹn beta không chọn lọc. Các thuốc nhóm này vừa chẹn beta-1, làm hạ huyết áp như phân nhóm 1 đồng thời lại cũng chẹn beta-2, dẫn đến giãn mạch, giảm sức cản ngoại vi, hạ huyết áp (tác dụng cuối nguồn).

Do cơ chế tác dụng của thuốc ức chế beta nhóm này lên cả 2 thụ thể mà tác động hạ huyết áp chỉ ở mức trung bình, song không làm chậm nhịp tim quá mạnh như với phân nhóm 1.

Phân nhóm 3 (gồm carvedilol, labetalol)

Tác động ức chế không chọn lọc trên beta-1 và beta-2, đồng thời lại chẹn thụ thể alpha-1, gây ra tác dụng giãn mạch, giảm sức cản ngoại vi, hạ huyết áp (tác dụng cuối nguồn). Như vậy, phân nhóm này có tác dụng hạ huyết áp do cơ chế giãn mạch là chủ yếu (chẹn alpha-1 và beta-2).

Năm 2005, nebivolol được cho phép sử dụng. Trong số các thuốc chẹn beta, nebivolol có độ chọn lọc cao nhát. Nebivolol giãn mạch máu thông qua việc kích thích oxid nitric (NO) qua đó cải thiện chức năng nội mô, không có tác dụng phụ trên quá trình chuyển hóa (đặc biệt là các chỉ số glucose huyết và lipid huyết) và ít tác dụng phụ hơn so với thuốc chẹn beta cổ điển đối với chức năng tình dục.

Một nghiên cứu quan sát đã đánh giá hiệu quả và sự an toàn của nebivolol ở bệnh nhân tăng huyết áp trong môi trường thực tế tiến hành tại 66 địa điểm ở Hàn Quốc trên hơn 3.000 bệnh nhân nhằm đánh giá hiệu quả là sự thay đổi huyết áp tâm thu và tâm trương và sự thay đổi nhịp tim sau 12 và 24 tuần điều trị với nebivolol 5mg mỗi ngày một lần.

Kết quả cho thấy nebivolol làm giảm đáng kể huyết áp tâm thu trung bình và huyết áp tâm trương sau 12 tuần và 24 tuần; nhịp tim giảm đáng kể sau 12 tuần. Phần lớn các tác dụng phụ là nhẹ và trung bình. Các phản ứng có hại của thuốc tương đương với các báo cáo trước đây, với chóng mặt (0,2%), nhịp tim chậm (0,2%) và khó thở (0,1%) là phổ biến nhất.

Các nghiên cứu đã cho thấy không có sự khác biệt đáng kể về hiệu quả và độ an toàn của nebivolol giữa các nhóm tuổi, bao gồm cả người cao tuổi. Ngoài ra, so với những bệnh nhân trẻ tuổi hơn, người cao tuổi có tỷ lệ mắc bệnh nhiều hơn như rối loạn chức năng thất trái, rung tâm nhĩ và bệnh động mạch vành, đó là yếu tố chỉ định thuyết phục đối với thuốc chẹn beta làm giãn mạch như nebivolol, vì chúng bảo tồn cung lượng tim.

Kinh nghiệm lâm sàng cho thấy rằng nebivolol 5mg mỗi ngày một lần là phù hợp với bệnh nhân lớn tuổi.

thuốc chẹn beta điều trị tăng huyết áp
Nebivolol là thuốc chẹn beta chọn lọc nhất trong nhóm.

Do cơ chế giãn mạch của nebivolol qua NO nên có ý kiến nghi ngại không biết thuốc này có được dùng chung với các chất ức chế PDE5 (các thuốc điều trị rối loạn cương dương sildenafil, tadalafil và vardenafil) hay không?

Mặc dù không có chống chỉ định tuyệt đối khi sử dụng nebivolol với các chất ức chế PDE5 hoặc nitrat, nhưng cần lưu ý rằng nebivolol kích thích giải phóng nitric oxid để giãn mạch nên nếu dùng thuốc này cùng ức chế PDE5 có thể làm gia tăng tác dụng hạ huyết áp, vì vậy tốt nhất là tránh dùng đồng thời.

Nếu bệnh nhân bị giảm huyết áp nghiêm trọng khi sử dụng cả hai loại thuốc, thì thời gian của các khoảng thời gian giữa các lần dùng nên được kéo dài. Đáng chú ý, không giống như các thuốc chẹn beta khác, nebivolol có tác dụng giãn mạch giúp duy trì chức năng tình dục ở nam giới, giảm nguy cơ rối loạn cương dương và cần dùng thuốc ức chế PDE5 sau đó.

Đối với những bệnh nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) thường xuyên phải dùng thuốc kích thích thụ thể beta-2 adrenergic tác dụng kéo dài để giãn phế quản, thì tùy theo tình trạng của người bệnh, bác sĩ sẽ quyết định có chỉ định thuốc này hay không.

DS. Trí Mai

Scroll to Top