Thực hành sử dụng thuốc kháng sinh khi không có xét nghiệm hỗ trợ

Cách sử dụng thuốc kháng sinh

Liều kháng sinh:

+Liều lượng: ngay cả với những kháng sinh nhẹ cũng không nên dùng liều quá thấp trừ những trường hợp suy thận và ở người cao tuổi vì chức năng đào thải thận hoặc mật đã suy giảm.
+Giờ dùng thuốc và khoảng cách giữa những lần dùng thuốc:
Khi uống thuốc lúc đói, kháng sinh sẽ được hấp thụ tốt hơn nhưng lại gây khó chịu cho bệnh nhân. Các thuốc kháng sinh, các thực phẩm từ sữa làm giảm hấp thu các cyclin (trừ vibramycin). Nên chia thuốc thành nhiều lần dùng trong ngày (trung bình từ 2 – 4 lần tùy theo thời gian bán hủy của kháng sinh).

Đường dùng thuốc: Uống thuốc cũng có hiệu quả như tiêm thuốc. Thường chỉ dùng đường tiêm cho những bệnh nhân bị rối loạn tiêu hóa, có các vấn đề tâm lý và những người ít chịu hợp tác với nhân viên y tế.

Tương tác giữa kháng sinh và các thuốc khác:

»Rifampicin:
+Estroprogestafif: giảm hiệu lực của viên thuốc tránh thai;
+Thuốc chống đông: giảm hiệu lực của thuốc này;
+Corticoid: giảm hiệu lực của thuốc này;
+Isoniazid: tăng hiệu lực gây độc cho gan.

»Troleandomycin:
+Với dẫn xuất của nấm cựa gà (ergot de seigle): có tác dụng co thắt có thể gây hoại thư các đầu chi.
+Với estroprogestatit: vàng da kéo dài.

»Sulfamid với thuốc chống đông: tăng tiềm lực thuốc chống đông.

»Aminosid với thuốc lợi tiểu: tăng tiềm lực gây độc cho thận.

– Độc tính và không dung nạp thuốc: hai loại tai biến nguy kịch là choáng phản vệ và viêm đại tràng loét nhày.

Thực hành dùng kháng sinh

Quyết định dùng kháng sinh:

+Những trường hợp dùng ngay kháng sinh không chậm trễ. Viêm tai cấp và nhiễm khuẩn da; Nhiễm khuẩn đường tiểu thấp ở phụ nữ trẻ, viêm túi mật cấp, các bệnh phổi; Viêm vòi trứng (salpingita) ở người sinh đẻ nhiều lần; Viêm nắp thanh quản.

+Những trường hợp dùng kháng sinh ngay dù đã gửi bệnh phẩm đi làm xét nghiệm mà kết quả xét nghiệm chưa trả về. Mọi trường hợp nhiễm khuẩn nặng mà chẩn đoán mới chỉ là suy đoán các bệnh phổi – phế quản cấp có suy hô hấp, viêm thanh quản bạch hầu, choáng nhiễm khuẩn, hoại thư, nhiễm khuẩn sinh dục, đường tiểu cấp có sốt như viêm bể thận – thận, viêm tuyến tiền liệt, viêm mào tinh – tinh hoàn, viêm tủy xương, ban xuất huyết nhiễm khuẩn huyết, viêm vòi trứng ở phụ nữ chưa sinh đẻ hoặc ở phụ nữ muốn sinh con, nhiễm khuẩn huyết, nhiễm tụ cầu ác tính.

+Mọi trường hợp nhiễm khuẩn tiềm ẩn nguy cơ: đinh râu, viêm khớp háng, các vết thương khớp, các vết cắn, viêm niệu đạo, sốt ở trẻ em dưới 2 tuổi, sốt ở phụ nữ có thai sau tháng thứ 8.

+Sau một thời gian ngắn theo dõi để chỉ định làm các xét nghiệm sẽ dùng kháng sinh trong những trường hợp: thương hàn, bệnh Brucella, viêm nội tâm mạc, lao kê, bệnh do Mycoplasma, bệnh xoắn khuẩn.

+Dùng kháng sinh ngay ở những người có thể trạng suy yếu: trẻ còn bú 2 tháng tuổi, người già, người suy giảm miễn dịch (mất bạch cầu hạt, người dùng corticoid hoặc thuốc độc hại tế bào), nhiễm khuẩn tiểu tiềm tàng ở phụ nữ có thai, bệnh nhân đã được cắt lách, đái tháo đường chưa ổn định, người nghiện rượu, nhiễm khuẩn cơ hội ở bệnh nhân HIV/AIDS.

+Dùng kháng sinh với mục đích phòng ngừa: người thân săn sóc bệnh nhân viêm màng não tủy, người có tiếng thổi van tim đang chữa bệnh răng, bạn tình của người mắc bệnh lây truyền đường tình dục, phòng bệnh hoại thư sau khi bị thương do chấn thương.

+Những trường hợp không được dùng kháng sinh là: nhiễm khuẩn tiểu không có triệu chứng ở người mang ống thông (sonde) bàng quang, phòng ngừa viêm phế quản mạn tính bội nhiễm (để không gây ra những mầm bệnh kháng kháng sinh), người trẻ tuổi khỏe mạnh đang mắc các bệnh sởi, thủy đậu, viêm mũi họng có sốt, ít nhất là trong những ngày đầu bị bệnh trong giai đoạn virus của bệnh.

cách sử dụng thuốc kháng sinh

Bác sĩ khám bệnh và là người quyết định cho bệnh nhân dùng kháng sinh gì và dùng như thế nào

Thời gian dùng kháng sinh:

Ba yếu tố sau đây sẽ quyết định thời gian dùng kháng sinh:

Xu hướng hiện nay thiên về các cách điều trị ngắn.
Khu trú của nhiễm khuẩn.
Điều trị sớm.

+Xu hướng dùng những cách điều trị ngắn ngày:
Ngày nay chất lượng các kháng sinh đã được nâng cao lên nhiều nên có thể chỉ dùng thuốc trong một thời gian ngắn để tránh những hiện tượng không dung nạp thuốc. Trong một số trường hợp, cách điều trị ngắn đã trở thành cách điều trị “phút”.

+Cách điều trị “ngắn”:
Viêm màng não mủ: trước đây dùng kháng sinh trong 2 tuần, ngày nay chỉ cần dùng 7 đến 10 ngày để điều trị viêm màng não do não mô cầu hoặc phế cầu.
Bệnh lao: trước đây thời gian điều trị từ 18 tháng đến 24 tháng vì chỉ dùng rimifon và streptomycin, nay giảm xuống còn 8 tháng nhờ phối hợp rimifon + ethambutol + rifampicin, giảm xuốhg 6 tháng nếu phối hợp rimifon + ethambutol + rifampicin + pyrazinamid.
Bệnh amip cấp: dùng fasigyn chỉ trong 4 – 5 ngày.

+Cách điều trị “phút”:
Nhiễm khuẩn tiểu không có biến chứng: amoxycillin hoặc cotrimoxazol dùng liều duy nhất đạt 95 – 100%, kết quả tốt, 85% khi dùng aminosid.
Viêm niệu đạo và viêm hậu môn do lậu cầu: thường dùng amoxycillin – probenecid hoặc procain – penicillin + probenecid.
Giang mai tiên – thư phát dùng liều độc nhất 1.200.000UI benzathin – penicillin.
Viêm họng do lậu cầu khuẩn: tiêm một liều duy nhất 1.200.000UI benzathin – penicillin hoặc extencillin.
Dùng kháng sinh dự phòng uống hoặc tiêm một liều duy nhất sẽ bảo vệ cho bệnh nhân bị bệnh van tim không mắc bệnh Osler/khi nhổ/chữa răng hoặc làm những thăm dò y học, điều trị viêm màng não do não mô cầu bằng một mũi tiêm bắp thịt duy nhất chloramphenicol với liều lượng 75mg/kg nặng (dung dịch dầu chậm).

+Thời gian điều trị phụ thuộc vào nơi khu trú của nhiễm khuẩn. Ví dụ: cách điều trị “phút” cho những bệnh lậu niệu dạo hoặc hậu môn có kết quả rất tốt nhưng ở bệnh nhân bị lậu ở họng lại cần điều trị 7 ngày, điều trị nhiễm khuẩn ở xương không dưới 25 ngày.

+Thời gian điều trị phụ thuộc vào việc dùng kháng sinh sớm: dùng kháng sinh sớm trước khi xuất hiện phản ứng viêm sẽ có kết quả nhanh. Ngược lại, dùng kháng sinh muộn khi nhiễm khuẩn đã hình thành sẽ cho kết quả chậm và hiệu lực thuốc cũng suy giảm.

sử dụng thuốc kháng sinh

Uống thuốc cũng hiệu quả như tiêm thuốc

Nguyên nhân thất bại khi sử dụng thuốc kháng sinh

Có 7 nguyên nhân:

– Bỏ qua một trường hợp cấp cứu hoặc chẩn đoán sai, không đánh giá đúng mức độ nặng của bệnh. Ví dụ: không nghĩ đến bệnh sốt rét ác tính trước một bệnh nhân sốt đột ngột kèm theo những biểu hiện thần kinh tâm thần. Áp xe gan do amip lại chẩn đoán là viêm túi mật hoặc tràn dịch màng phổi phải,…

– Quên điều trị kết hợp: Không bù nước đủ cho những bệnh như tiêu chảy nhiễm khuẩn, quên không tiêm áp xe mông do thuốc gây nên, quên dẫn lưu một ổ mủ sâu (áp xe gan).

– Kê đơn muộn: gây ra những hậu quả tai hại như trong những trường hợp viêm màng não nhiễm khuẩn, bệnh phổi nặng ở người cao tuổi hoặc suy hô hấp, đinh râu.

– Điều trị “mù”: đây là một trong những nguyên nhân điều trị không phù hợp với căn bệnh. Trước một số trường hợp phức tạp hoặc nguy kịch, bác sĩ có thể dùng ngay kháng sinh kỳ đầu khi chưa có các xét nghiệm trợ giúp nhưng nếu việc làm này không có kết quả thì sẽ khá phiền phức: lúc này bác sĩ sẽ buộc phải chờ một thời gian để có kết quả xét nghiệm hướng dẫn cho việc dùng thuốc đúng đắn.

– Không theo dõi sát bệnh nhân để điều chỉnh dùng thuốc phù hợp: Ví dụ mặc dù đã điều trị đúng cách nhưng kết quả mang lại có vẻ như không tốt, điều này hay gặp ở những trường hợp vẫn sốt dai dẳng khi đang dùng thuốc. Đấy là những trường hợp sau:

+Sốt do thuốc gây nên (do chính kháng sinh hay một thuốc khác). Lúc này chỉ cần ngừng thuốc đó lại là sẽ hết sốt.
+Sốt do một bệnh nhiễm khuẩn tiềm ẩn.
+Sốt do kháng kháng sinh.

– Quên không điều trị dự phòng cho những trường hợp sau: các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục ở những bệnh nhân có nguy cơ (lậu, giang mai,…), những người tiếp xúc với bệnh viêm màng não do não mô cầu, sau khi bị các động vật cắn, những bệnh nhân có lắp các bộ phận giả về khớp, tim mạch, ống thông (sonde) dẫn lưu (để tránh nhiễm khuẩn cho những dị vật này).

– Thuốc đã hết hạn dùng hoặc bệnh nhân không dùng thuốc hoặc có dùng thì chỉ trong một thời gian ngắn rồi ngừng thuốc ngay khi thấy nhiễm khuẩn đã bắt đầu đỡ.

GS. Phạm Gia Cường

Menu