Phình bóc tách động mạch chủ nguy hiểm như thế nào?

Phình bóc tách động mạch chủ là gì?

Phình bóc tách động mạch chủ là một cấp cứu nội ngoại khoa, tiên lượng của bệnh rất nghiêm trọng. Đây là tình trạng lớp nội mạc bị rách làm máu từ động mạch chủ chảy vào giữa hai lớp áo là lớp áo trong và lớp áo giữa, máu nằm giữa 2 lớp áo của động mạch chủ gọi là khối máu tụ bóc tách. Điều may mắn là bệnh rất ít gặp nhưng lại là tai biến thường gặp nhất của động mạch chủ, tỉ lệ tử vong rất cao tùy thuộc vị trí tổn thương (có thể đến 90%).

Phình bóc tách động mạch chủ được mô tả lần đầu tiên bởi Morgani (1761) và Laennec gọi là phình bóc tách (1819). Bệnh thường xảy ra ở nam giới tuổi 60 – 70.

Hiện tượng động mạch chủ bị bóc tách

Trong hầu hết các trường hợp phình bóc tách động mạch chủ, người ta thấy lớp áo giữa (hay trung mạc) bị thoái hóa, tổ chức liên kết, tổ chức đàn hồi tạo thành nang. Những thay đổi này xảy ra trong quá trình lão hóa và hay gặp ở người bị tăng huyết áp. Tổn thương mô liên kết, tổ chức đàn hồi hay gặp ở những người trẻ dưới 40 tuổi bị bệnh hoặc trong hội chứng Marfan, còn ở người lớn tuổi là thoái hóa tế bào cơ trơn.

phình bóc tách đm chủ

Tổn thương bóc tách động mạch

Người ta thống kê lại một số yếu tố nguy cơ (không phải là nguyên nhân):

– Tăng huyết áp.

– Hội chứng Marfan, Ehlers-Danlos, bệnh cơ tim phì đại.

– Van động mạch chủ bẩm sinh chỉ 2 lá, còn ống động mạch.

– Bệnh viêm quanh nút động mạch.

– Chấn thương động mạch chủ.

– Do thuốc hoặc hóa chất làm tổn thương lớp áo giữa động mạch chủ.

Những yếu tố nguy cơ tiềm tàng gồm: giới tính (nam giới có gấp đôi nguy cơ bị bóc tách động mạch chủ); tuổi (tần suất tăng trong tuổi 60 – 80); dùng cocain (thuốc gây nghiện này là yếu tố nguy cơ vì nó gây tăng huyết áp nhất thời); mang thai (không thường gặp nhưng phình bóc tách có thể xảy ra ở phụ nữ khỏe mạnh mang thai); tập luyện nặng (làm tăng nguy cơ do làm tăng huyết áp trong khi vận động).

Vị trí động mạch chủ bị tổn thương thường gặp ở động mạch chủ lên, 1/3 trường hợp gặp ở động mạch chủ xuống. Những trường hợp khởi phát trong vòng 2 tuần thì gọi là cấp tính, quá 2 tuần thì xếp vào mãn tính. Có nhiều cách phân loại khác nhau, cách đơn giản là của Stanford: type A (tổn thương động mạch chủ đoạn lên) và type B (tổn thương động mạch chủ đoạn xa từ chỗ xuất phát của nhánh động mạch dưới đòn trái).

bóc tách động mạch chủ là gì

Phân loại phình bóc tách động mạch chủ theo Stanford

Type A hay gặp ở người trẻ, còn type B thường gặp ở người lớn tuổi. Quá trình bóc tách chia làm 2 giai đoạn: đầu tiên là lớp nội mạc bị tổn thương, qua đó máu sẽ thấm vào và sau đó là bóc tách lan rộng, áp lực của tuần hoàn theo sự co bóp của tim làm máu thấm vào tách rời các lớp của thành động mạch chủ.

Biểu hiện của phình bóc tách động mạch chủ

Đau ngực dữ dội là biểu hiện đặc trưng của bệnh, thậm chí nhiều trường hợp đau gây choáng. Tuy nhiên, triệu chứng đau ngực cũng thường gặp trong trường hợp bị nhồi máu cơ tim cấp. Tùy vị trí bóc tách mà cơn đau ngực nặng hay nhẹ. Khi phình bóc tách ở đoạn lên thì đau ngực phía trước lan lên cổ, hàm răng, họng và đôi khi đau bụng dữ dội. Nếu tổn thương ở đoạn xuống sẽ gây đau phía sau lưng, đau bụng.

Cơn đau thường khởi phát đột ngột, đau chói dữ dội như dao đâm, có thể cảm giác bị xé, có thể đau thay đổi theo tư thế. Tuy nhiên cũng không ít bệnh nhân hoàn toàn không có đau, một số bệnh nhân lại có quá trình ngưng đau rồi đau trở lại (đây là dấu hiệu của vỡ phình bóc tách).

Kèm với đau có thể bệnh nhân bị ngất, suy tim ứ huyết (khi có hở van động mạch chủ nặng), tai biến mạch máu não, ngừng tim, triệu chứng của rối loạn thần kinh phó giao cảm (khó thở, nôn, buồn nôn, đau đầu,…). Khi khám bệnh, bác sĩ sẽ phát hiện ra tình trạng mạch yếu hay mất mạch, có chênh lệch về độ nảy của mạch hoặc huyết áp động mạch giữa hai tay, có thể giãn mạch cổ một bên hoặc giãn tĩnh mạch cả 2 bên,… và triệu chứng của biến chứng phình bóc tách động mạch chủ: tràn máu màng tim, màng phổi, xuất huyết tiêu hóa, nhồi máu thận, nhồi máu cơ tim, nhồi máu mạc treo,…

Để chẩn đoán người ta dựa vào 3 triệu chứng: (1) đau ngực khởi phát đột ngột hoặc đau ngực chói dữ dội, (2) chênh lệch mạch, huyết áp hoặc cả hai, (3) trung thất hoặc động mạch phổi giãn rộng hoặc cả hai. Khi có triệu chứng (2) hoặc có 2 trong 3 triệu chứng trên thì chẩn đoán đúng đến 83%, nêu không có triệu chứng nào thì chẩn đoán loại trừ đến 93%.

bóc tách động mạch chủ

Hình ảnh chụp cắt lớp điện toán (CT scanner) trong phình bóc tách động mạch chủ

Về mặt xét nghiệm, để chẩn đoán xác định, bệnh nhân được đo myosin chuỗi nặng (Mhc) của tế bào cơ trơn trong huyết thanh, chụp X quang ngực, đo điện tâm đồ, siêu âm, chụp cắt lớp điện toán, cộng hưởng từ hạt nhân, chụp động mạch chủ bằng thuốc cản quang,… Mỗi xét nghiệm có những ưu khuyết riêng và cần phối hợp nhiều xét nghiệm để xác định chẩn đoán.

Phình bóc tách động mạch chủ có tiên lượng nặng và điều trị khó khăn

Biến chứng của bệnh: phình bóc tách động mạch chủ có thể dẫn đến các biến chứng như tử vong do tình trạng chảy máu nội nặng; tổn thương cơ quan như suy thận hoặc tổn thương ruột nguy kịch; tai biến mạch máu não; tổn thương van động mạch chủ hoặc vỡ vào lớp lót quanh tim (gây chèn ép tim).

Các chuyên gia đưa ra các khuyến cáo nhằm phòng ngừa nguy cơ bị phình bóc tách: kiểm soát huyết áp; bỏ hút thuốc lá; duy trì cân nặng lý tưởng (chế độ ăn giảm muối với nhiều trái cây, các loại hạt và tập thể dục đều đặn); khám định kỳ nếu có tiền sử gia đình bị phình bóc tách.

Bệnh có tỉ lệ tử vong rất cao, theo một số tác giả thì tử vong trong 24 giờ đầu lên đến 1/4 các trường hợp, 1/2 trong tuần đầu. Dù có nhiều tiến bộ trong hồi sức cấp cứu tim mạch nhưng tỉ lệ tử vong trong vài thập kỷ vừa qua vẫn chưa thấy khả quan hơn. Tỉ lệ tử vong còn tùy thuộc vào vị trí tổn thương, ở đoạn gần tỉ lệ tử vong xấp xỉ 30% tại bệnh viện. Nếu tổn thương đoạn gần được phẫu thuật thì tỉ lệ sống sau 5 năm đạt trên 50%.

Người ta sẽ phẫu thuật các trường hợp: phình bóc tách đoạn gần hoặc đoạn xa nhưng có đe dọa sinh tồn, hở van nặng, dọa vỡ, khối phình lớn nhanh, tràn máu phúc mạc… tỉ lệ tử vong quanh phẫu thuật của phình bóc tách động mạch chủ từ 5 – 10% nhưng nếu có biến chứng thì có thể đến 70%. Các trường hợp còn lại chưa có biến chứng thì được điều trị nội khoa, chủ yếu là điều trị triệu chứng: hạ huyết áp, chống rối loạn nhịp tim, chống thiếu máu,… Dù có phẫu thuật hay điều trị nội thì bệnh nhân phình bóc tách động mạch chủ phải được theo dõi sát, uống thuốc liên tục, khám định kỳ mỗi 3 tháng hoặc 6 tháng tùy nguy cơ để can thiệp kịp thời.

TS.BS. Bùi Minh Trạng

Menu