Hỏi đáp về Bệnh đái tháo đường

Chỉ số đường huyết là gì?

Đường huyết là nồng độ đường (glucose) trong máu. Đường huyết được coi là bình thường khi giới hạn giữa 0,7g/l và 1g/l (3,89mmol/l – 5,56mmol/l). Đường huyết khi đói nằm giữa 1,01g/l và 1,25g/l (5,61mmol/l – 6,95mmol/l). Người đái tháo đường (tiểu đường) khi thử đường huyết lúc đói ít nhất bằng 1,26g/l (7mmol/l) và khi thử máu vào bất kỳ thời điểm nào đều có đường huyết > 2g/l (11mmol/l).

Tại sao người đái tháo đường thấy đói nhiều mặc dù ăn nhiều hơn trước mà vẫn gầy?

Chỉ riêng người đái tháo đường thiếu insulin mới thấy đói mặc dù họ ăn nhiều. Insulin giúp cho glucose và một số hợp phần của protein và các chất béo thâm nhập vào bên trong các tế bào cơ thể để nuôi chúng. Khi nói đến thiếu insulin là nói đến việc không đưa được thức ăn vào trong từng tế bào, khiến cho người bệnh thấy đói.

đái tháo đường

Ăn nhiều đường là tác nhân làm bệnh tiểu đường xuất hiện sớm hơn

Lúc nào cũng đói có phải là triệu chứng của bệnh tiểu đường không?

Lúc nào cũng đói có thể có nhiều nguyên nhân: bệnh dạ dày (viêm dạ dày hoặc loét dạ dày – tá tràng); bệnh đái tháo đường; ít gặp hơn nhiều là dấu hiệu hạ đường huyết chức năng do hoạt động quá mức của dạ dày hoặc hạ đường huyết thực thể do các khối u tuyến tụy.

Tại sao người đái tháo đường mệt mỏi nhiều?

Người đái tháo đường bị mất glucose, nước và các muối khoáng theo đường tiểu tiện. Các cơ (bắp thịt) và phủ tạng bị kém nuôi dưỡng nên chức năng của chúng bị suy giảm.

Thiếu insulin dẫn đến sản xuất ra các chất ceton (chất acid xuất phát từ mỡ) ở người đái tháo đường phụ thuộc insulin (đái tháo đường type 1) và độ acid ngày càng tăng làm nặng thêm sự vận hành xấu của các cơ quan.

Ở người đái tháo đường không phụ thuộc insulin (đái tháo đường type 2), quá nhiều đường sẽ đầu độc các tế bào dẫn đến mệt mỏi.

Tại sao người đái tháo đường thấy khát nước khi chưa được điều trị?

Khát nước là do mất quá nhiều nước khi tiểu. Lượng glucose quá nhiều trong máu được thải ra nước tiểu, qua thận. Thế nhưng thận chỉ thải được glucose khi được kết hợp với nước, do vậy cơ thể mất nhiều nước nên bệnh nhân khát.

Khi khám sức khỏe phát hiện có glucose trong nước tiểu có phải là đã bị tiểu đường không?

Không nhất thiết là như vậy. Nếu đường huyết vẫn bình thường thì có thể đây là trường hợp “đái tháo đường thận”: ở người bình thường chỉ tiểu ra glucose khi đường huyết > 1,8g/l (10,001mmol/l), nhưng trong bệnh “đái tháo đường thận”, người bệnh tiểu ra glucose trước khi đường huyết đạt mức 1,8g/l, thường là ở mức 1,6g/l (8,89mmol/l). Nhưng nếu đường huyết lại đồng thời tăng cao trong máu thì nhiều khả năng đây là đái tháo đường thực sự.

Đái tháo đường có di truyền không?

Đái tháo đường tuyp 1 ít khi có khả năng di truyền. Nhưng đái tháo đường tuyp 2 thì có yếu tố di truyền. Cụ thể là ở trẻ em bị đái tháo đường type 2 gọi là MODY (maturity – onset diabetes of the youth bệnh đái tháo đường khởi phát tuổi trưởng thành) thì yếu tố di truyền là nổi bật và tồn tại từ thế hệ này sang thế hệ sau.

Đái tháo đường type 1 khác với đái tháo đường type 2 ở điểm nào?

Ớ người đái tháo đường type 1 tụy của họ không còn sản xuất ra insulin nữa (90% các tiểu đảo bêta ở tụy đã bị phá hủy). Thường thường thì đái tháo đường type 1 gặp ở người trẻ (trẻ em, vị thành niên), bệnh khởi phát rất mạnh.

Ở người đái tháo đường type 2, người bệnh có thể sản xuất được insulin nhưng vẫn không làm hạ được đường huyết vì có yếu tố kháng insulin. Thường bệnh nhân là người béo phì khoảng 50 tuổi hoặc ở thời kỳ mãn kinh (nữ).

bệnh tiểu đường

Những người thừa cân hay béo phì nên tầm soát bệnh đái tháo đường

Có thể phát hiện đái tháo đường một cách ngẫu nhiên không?

Đái tháo đường typ 2 có thể phát triển trong 10 năm và rất hay được phát hiện một cách ngẫu nhiên. Những người đái tháo đường typ 1 nhẹ cũng có thể tiến triển tiềm tàng do đó cần phải làm các cuộc tầm soát có hệ thống để phát hiện bệnh.

Ăn quá nhiều đường có thể bị đái tháo đường không?

Ở những người ăn quá nhiều đường chỉ có một số nhỏ sẽ trở thành đái tháo đường do bẩm chất (predisposition) di truyền. Ăn quá nhiều đường không gây ra đái tháo đường, nó chỉ làm cho bệnh này sớm xuất hiện.

Chỉ số đường huyết là bao nhiêu thì được gọi là tăng đường huyết?

Tổ chức Y tế Thế giới và Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ định nghĩa tăng đường huyết lúc đói như sau: đường huyết ≥ 1,26g/l (7mmol/l). Khi thử đường huyết vào bất cứ lúc nào trong ngày nếu đường huyết ≥ 2g/l (11mmol/l) thì đấy là tăng đường huyết sau khi ăn.

Tại sao khi tăng đường huyết lại đi tiểu nhiều?

Khi thận đào thải đường thì đồng thời cũng đào thải luôn cả nước. Bởi vậy càng mất glucose bao nhiêu thì cũng mất nước bây nhiêu.

Tăng đường huyết có dẫn đến hôn mê không?

Có hai trường hợp:

  • Tăng đường huyết rất cao và đơn độc có thể dẫn đến “hôn mê tăng thẩm thấu” (áp lực thẩm thấu trong mạch máu tăng lên rất cao vì có quá nhiều đường trong máu). Đây là hôn mê nặng cần cấp cứu khẩn trương.
  • Đái tháo đường type 1 khi không còn insulin hoặc insulin không còn hiệu lực có thể dẫn đến hôn mê toan – cetose (acidocetose) nghĩa là tăng đường huyết kèm theo tăng quá mức các chất tạo ceton, những chất này làm toan hóa (acidose) có thể dẫn đến hôn mê.

Người không bị đái tháo đường có khi nào bị tăng đường huyết không?

Có! Có những trường hợp tăng đường huyết chưa đủ cao để gọi là đái tháo đường nhưng chỉ số vẫn cao hơn bình thường. Đấy là giai đoạn trung gian giữa bình thường và đái tháo đường gọi là tăng đường huyết khi đói. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, gọi là tăng đường huyết khi đói nếu đường huyết nằm giữa 1,01g/l – 1,25g/l (5,61mmol/l – 6,95mmol/l) (còn gọi là tiền đái tháo đường).

Biểu hiện của hạ đường huyết là gì?

Những dấu hiệu đi theo hạ đường huyết không phải là những dấu hiệu đặc thù: cơn đói cồn cào, sợ thức ăn, buồn nôn, nôn, ngáp nhiều buồn ngủ rũ, run, tim nhanh, đánh trống ngực, đau vùng tim, ra mồ hôi lạnh, hôn mê vật vã,…

GS. Phạm Gia Cường

Menu