Hiểu thêm về thuốc kháng VEGF trong điều trị bệnh lý võng mạc

VEGF và Anti-VEGF là gì và các bệnh lý võng mạc liên quan

VEGF (Vascular Endothelial Growth Factor) là một protein được sản sinh từ các tế bào trong cơ thể đóng vai trò trong việc hình thành các mạch máu mới. Trước đây, các thuốc kháng VEGF (anti-VEGF) đã được ứng dụng trong chỉ định điều trị ung thư bởi vì các tế bào ung thư cũng tiết ra VEGF kích thích hình thành mạch máu mới, đáp ứng cho nhu cầu phát triển và di căn của khối u.

Hiện nay, khoa học đã chứng minh trong một số bệnh lý võng mạc cũng có nguyên nhân từ sự xuất hiện của VEGF, từ đó có thể áp dụng thuốc kháng VEGF trong điều trị bệnh lý võng mạc, mà chủ yếu là các bệnh lý: thoái hóa hoàng điểm tuổi già có tân sinh mạch thể ướt (wAMD) trong đó có 1 phân nhóm nhỏ hơn được gọi là PCV, phù hoàng điểm thứ phát do tắc nghẽn nhánh tĩnh mạch võng mạc (CRVO), phù hoàng điểm thứ phát do tắc tĩnh mạch võng mạc trung tâm (BRVO), phù hoàng điểm do đái tháo đường (DME), tân sinh mạch cận thị (CNV in myopic macular degeneration).

Thoái hóa hoàng điểm tuổi già (AMD) là nguyên nhân hàng đầu của tổn hại thị giác ở những bệnh nhân trên 50 tuổi tại các nước phát triển; tổn hại không hồi phục; gây ra rất nhiều biến đổi ở hoàng điểm, thường không được phát hiện trên lâm sàng.

Có 2 thể thoái hóa hoàng điểm tuổi già là thể khô và thể ướt (dry AMD và wet AMD). Dạng teo (khô) chiếm 90% các trường hợp bệnh và dạng xuất tiết (ướt) dù chỉ chiếm 10%, nhưng lại là nguyên nhân của 90% tình trạng mất thị lực nghiêm trọng của bệnh lý này.

Triệu chứng của thoái hóa hoàng điểm tuổi già thể ướt (wAMD) thường là mờ mắt, méo mó thị trường, hình ảnh gợn sóng, nhìn vật thể bị biến dạng, mảng tối ở vùng thị lực trung tâm.

vegf drugs
Võng mạc bình thường.
Anti-VEGF
Quá trình phát triển AMD (giai đoạn sớm).
Vascular Endothelial Growth Factor
Quá trình phát triển AMD (sẹo sơ hóa).

DME là biên chứng mạch máu nhỏ của bệnh lý đái tháo đường, nguyên nhân hàng đầu gây mất thị lực mức độ trung bình đến nặng ở bệnh nhân đái tháo đường, nguyên nhân hàng đầu gây mù lòa trong độ tuổi lao động tại các quốc gia phát triển.

Trong thập niên 1980, bệnh lý DME được điều trị bằng laser quang đông nhưng phương pháp này chỉ giúp bảo tồn thị lực trong khi với sự xuất hiện của nhóm thuốc anti-VEGF thì không chỉ bảo tồn mà còn có khả năng phục hồi thị lực.

Anti-VEGF đang được công nhận trong điều trị bệnh lý võng mạc

Hiện tại trên thế giới đang nghiên cứu và cho kết quả phát triển trong tương lai nhưng thực tế lâm sàng, các hoạt chất aflibercept, ranibizumab và bevacizumab đang được sử dụng phổ biến cho chỉ định điều trị những bệnh lý võng mạc nêu trên, tùy theo điều kiện kinh tế của bệnh nhân và tình trạng bệnh mà các bác sĩ chuyên ngành có sự lựa chọn và liều dùng phù hợp cho từng người bệnh và từng thời kỳ của bệnh.

Nghiên cứu VIVID và VISTA đăng tải trên tạp chí nhân khoa của Mỹ năm 2016 (American Academy of Ophthalmology) cho biết, đối với DME, aflibercept hiệu quả so với phương pháp laser quang đông trước đây. Hình minh họa dưới chỉ muốn thể hiện hiệu quả trên thị lực của 2 phương pháp, tuy nhiên trong nghiên cứu còn quan tâm nhiều tiêu chí đánh giá như độ dày võng mạc, mức độ dung nạp của bệnh nhân…

vegf là gì
Hình ảnh người bình thường nhìn thấy.
vegf
Hình ảnh bệnh nhân wAMD nhìn thấy.

Thị lực tốt nhất sau khi chỉnh kính của bệnh nhân phục hồi trên 10 chữ (theo thang đo ETDRS) sau 52 tuần điều trị với aflibercept và sau 20 tuần điều trị thì thị lực của bệnh nhân đã phục hồi trên 9 chữ trong khi phương pháp laser quang đông chỉ có thể bảo tồn thị lực hiện có của bệnh nhân.

Điều kiện tiêm anti-VEGF đòi hỏi phòng tiêm vô khuẩn, dụng cụ tiêm tùy thuộc vào từng loại thuốc đã được chuẩn bị sẵn trong hộp thuốc, thuốc phải bảo quản lạnh (2 – 8°C) và không đông lạnh.

Thuốc sẽ được tiêm trong dịch kính nên cần thực hiện bởi các bác sĩ chuyên khoa.  Với những chỉ định khác nhau, hoạt chất khác nhau, đáp ứng của bệnh nhân cũng như tình trạng bệnh khác nhau, các bác sĩ sẽ có quyết định cụ thể cho chế độ tiêm khác nhau trên từng bệnh nhân và từng chỉ định, bên cạnh đề nghị chế độ liều của nhà sản xuất.

vegf bevacizumab
Tiêm nội nhãn cần thực hiện trong phòng vô khuẩn bởi các bác sĩ chuyên khoa.

Tóm lại, với sự phát triển gần đây của các hoạt chất thuộc nhóm anti-VEGF không chỉ dùng cho chỉ định ung thư mà còn chứng tỏ một số có thể dùng tiêm trong dịch kính và điều trị cho các bệnh lý võng mạc mà trước đây không thể phục hồi thị lực cho bệnh nhân.

Bên cạnh đó, sự phát triển của số lượng bệnh nhân đái tháo đường cũng mang theo gánh nặng của các biến chứng do đái tháo đường trong đó có bệnh lý võng mạc đái tháo đường.

Các nhà khoa học cũng nghiên cứu không ngừng để chứng minh chế độ liều nào hợp lý cho bệnh nhân, hoạt chất nào tỏ ra ưu việt hơn trong chỉ định nào,… Tuy nhiên, quan trọng nhất vẫn là bệnh nhân phát hiện sự thay đổi thị lực của mình càng sớm càng tốt và đến với cơ sở y tế chuyên biệt để có sự phát hiện bệnh lý đúng và sớm nhất có thể để được chữa trị hợp lý, vì càng được chữa trị sớm thì càng phục hồi tốt và duy trì thị lực ổn định. Đó cũng là lý do vì sao các bệnh nhân đái tháo đường sau 5 năm phát hiện thường được các bác sĩ đề nghị tầm soát bệnh lý võng mạc đái tháo đường.

Vậy nhưng bệnh lý AMD lại không được quan tâm. Người già ở các nước đang phát triển như chúng ta thường cho rằng khi tuổi cao “mắt mờ” là bình thường. Đó cũng là một trong những quan ngại mà y tế cộng đồng nên quan tâm.

Thị lực có thể nói không thấy quan trọng khi chưa thấy vấn đề, nhưng khi nhìn mờ hay mất thị lực thì chúng ta cảm thấy chất lượng sống giảm đi rất nhiều vì không thể giải trí, không thể làm việc, thậm chí không thể tự chăm sóc bản thân.

Hy vọng trong tương lai chúng ta sẽ có nhiều hơn những lựa chọn hợp lý trong anti VEGF cho các bệnh lý võng mạc.

DS. Nguyễn Hồng Trang

Scroll to Top