Giải mã cơ chế của thuốc lợi tiểu

Thuốc lợi tiểu là thuốc làm tăng bài tiết nước tiểu ở thận bằng cách tăng khối lượng nước đào thải hoặc tăng đồng thời cả nước lẫn các chất hòa tan trong nước tiểu.

Thuốc lợi tiểu hoạt động như thế nào?

Đơn vị chức năng của thận là nephron (còn gọi là đơn vị thận) gồm một tiểu cầu thận lọc huyết tương và một ống (thận) tái hấp thu một phần dịch lọc cầu thận. 98,5% dịch lọc được tái hấp thu, 1,5% bị đào thải. Chỉ cần giảm tỷ lệ tái hấp thu từ 98,5% xuống 97% (biến đổi rất nhỏ) sẽ làm tăng gấp đôi thể tích nước tiểu (biến đổi rất lớn). Tất cả các thuốc lợi tiểu đều tác động đến hiện tượng tái hấp thu ở ống thận.

nephron

Các tế bào ống thận chịu tác động enzym sẽ tái hấp thu các ion, đặc biệt là Na+. Do lực thẩm thấu, nước sẽ cùng đi theo Na+. Có hai hormon tham gia vào việc này: Hormon chống lợi tiểu tái hấp thu nước và aldosteron chỉ huy tái hấp thu Na+.

Phân loại các thuốc lợi tiểu theo cách hoạt động riêng của chúng được đơn giản hóa như sau:

Nước: Là một chất lợi tiểu quen thuộc ức chế bài tiết hormon chống lợi tiểu làm tăng lượng nước tiểu mà không tăng các chất hòa tan.

Thuốc lợi tiểu thẩm thấu: như mannitol được lọc tự do ở cầu thận nhưng không bị tái hấp thu ở ống thận (do kích thước phân tử lớn) nên tích tụ nhiều trong ống thận, làm tăng áp lực thẩm thấu tại đây kéo nước vào trong ống thận làm tăng lượng nước tiểu.

Thuốc lại tiểu thải muối ngăn chặn tái hấp thu Na+ nên Na+ được giữ lại trong ống thận kéo theo nước và K+, làm tăng lượng nước tiểu. Hiện tượng này diễn ra ở ba nơi:

+ Ở ống thận: nơi hoạt động của thuốc Diamox.

+ Ở phần cuối ống thận: nơi hoạt động của thuốc thiazid như Esidrex, Hygroton.

+ Ở quai Henle: nơi hoạt động của thuốc Lasilix.

– Thuốc lợi tiểu đối kháng với aldosteron hoặc có tác dụng giống như vậy, ví dụ thuốc Aldacton là chất đối kháng thực sự với aldosteron, Modamid là chất giả đối kháng với aldosteron, ngăn chặn tái hấp thu Na+: Na+ ở lại ống thận kéo theo nước làm tăng lượng nước tiểu. Tái hấp thu rất mạnh K+ làm tăng K+ máu.

Tai biến do thuốc lợi tiểu gây nên

Một tai biến chung cho các loại lợi tiểu thải muối và lợi tiểu thẩm thấu là mất nước ngoài tế bào rối loạn thăng bằng nước – khoáng. Vì các thuốc lợi tiểu thải muối làm giảm K+ máu và tăng acid uric máu nên người bị đái tháo đường, người bị bệnh gout cần được theo dõi đặc biệt khi dùng thuốc này. Trong một số trường hợp các muối K+ sẽ được dùng phối hợp.

Chỉ định điều trị và liều lượng

– Thuốc lợi tiểu thẩm thấu: Mannitol 10% được dùng để phòng suy thận cấp, điều trị bệnh tăng nhãn áp góc đóng bằng cách truyền nhỏ giọt tĩnh mạch 250ml trong 1 giờ.

– Thuốc lại tiểu thải muối: Diamox là chất ức chế anhydrase carbonic. Ít được dùng làm thuốc lợi tiểu vì có nhiều tác dụng không mong muốn. Chỉ định điều trị chính là tăng nhãn áp cấp (tiêm tĩnh mạch chậm và tăng nhãn áp mạn tính (viên 250mg, 1 – 2 viên/ngày).

– Các thiazid điều trị phù do tim (suy tim toàn bộ) và tăng huyết áp. Việc chọn thuốc căn cứ vào thời gian hoạt động của thuốc:

+ Trong vòng 8 – 12 giờ: dùng hydrochlorothiazid 25mg, 1 – 4 viên/ngày.

+ Trong vòng 24 giờ: dùng methylchlothiazid 2,5mg, 1 – 2 viên/ngày.

+ Trong vòng 48 – 72 giờ: dùng hygroton 50mg, 1 – 2 viên/ngày.

– Các thuốc lợi tiểu thải muối không thiazid, lợi tiểu quai được dùng khi cần một tác dụng nhanh, mạnh và ngắn: tiêm tĩnh mạch; Lasilix ống 2ml/20mg, tiêm 1 – 2 ống đường bắp thịt hay tĩnh mạch, dùng đường uống trong hội chứng phù cấp, suy tim xung huyết: Lasilix 20mg, 1 – 3 viên/ngày.

– Thuốc kháng aldosteron: Điều trị tăng huyết áp, phù do tim, phù do gan (xơ gan), hội chứng thận hư: Aldacton 25mg, 1 – 2 viên/ngày. Modamid 5mg, 1 – 2 viên/ngày. Phối hợp thuốc kháng aldosteron với thiazid sẽ làm giảm nguy cơ tăng K+ máu.

Lưu ý: Các thuốc lợi tiểu cần được dùng theo sự chỉ định của bác sĩ, không nên tự ý mua sử dụng.

GS. Phạm Gia Cường

Scroll to Top