Dùng thuốc sulfamid hạ đường huyết sao cho hiệu quả an toàn

Mức đường huyết thay đổi rất nhiều trước và sau khi ăn, trước và sau khi luyện tập. Cần hiểu và làm đúng một số hướng dẫn về dùng thuốc và ăn uống luyện tập thì mới làm tốt được việc kiểm soát đường huyết.

Đặc tính chung của nhóm đái tháo đường sulfamid

Đái tháo đường type 2 là do tuyến tụy suy yếu không tiết ra đủ insulin cần thiết. Thuốc nhóm này kích thích tế bào beta tuyến tụy sản xuất thêm insulin bồi đắp cho insulin thiếu hụt theo cơ chế: ức chế ATP nhạy cảm với kênh K+, chặn kênh K+, khử cực màng tế bào, tạo ra điện áp ở kênh Ca2+ làm tăng dòng Ca2+ đi vào nội bào của tế bào beta tuyến tụy, kích thích tuyến tụy sản xuất ra insulin. Các sulfamid chữa đái tháo đường thế hệ 3 (như glimepirid) còn có thêm cơ chế tác dụng ngoài tuyến tụy.

Các thuốc đái tháo đường sulfamid có thể gây hạ đường huyết (xuống mức < 70mg/dl). Biểu hiện: vã mồ hôi, run, cảm giác đói, bồn chồn, nhức đầu, rối loạn giấc ngủ, thị giác, phát âm; cử động loạng choạng. Nặng hơn: hôn mê, co giật, mất ý thức.

sulfamid

Tai biến này thường gặp trong các trường hợp sau: Khởi đầu tập luyện lúc đói và tập kéo dài, tập nặng. Dùng thuốc sulfamid chữa đái tháo đường cùng lúc với các thuốc có sẵn tính năng hạ đường huyết như các steroid đồng hóa, hormon sinh dục nam, thuốc chống đông, một số kháng sinh (tetracyclin, chloramphenicol, quinolon, miconazol), thuốc thải uric (probecid sulfipyrazon).

Trước khi ăn (còn đói) đường huyết thấp, sau khi ăn (no) đường huyết cao. Cần dùng thuốc thời điểm thích hợp (so với bữa ăn) để khi đường huyết cao thuốc sẽ kích thích tuyến tụy sản xuất ra insulin làm hạ đường huyết xuống. Trước khi luyện tập nếu mức đường huyết thấp thì nên ăn một chút gì đó để sau khi luyện tập sẽ có mức đường huyết vừa phải.

Tùy theo mức suy tuyến tụy ít hay nhiều mà mức đáp ứng của từng người với cùng một loại thuốc cũng khác nhau. Do đó, thầy thuốc lúc đầu cho dùng liều thăm dò thấp, sau đó nâng dần lên đến liều có hiệu lực, rồi duy trì liều đó.

Ngoài ra, có khi thầy thuốc còn cho dùng kết hợp thuốc sulfamid với một thuốc có cơ chế tác dụng khác (ví dụ như kết hợp với metformin thuộc nhóm biguanid). Khi kết hợp do có hai cơ chế tác dụng nên hiệu quả sẽ cao, đồng thời liều dùng mỗi chất thấp nên sẽ tránh được tai biến hạ đường huyết.

Trước đây thuốc uống sulfamid chỉ dùng cho đái tháo đường type 2, thuốc tiêm insulin chỉ dùng cho đái tháo đường type 1. Ngày nay, khi tuyến tụy chưa hỏng hẳn nhưng quá suy yếu không còn đủ khả năng kích thích sinh ra đủ insulin thì người ta còn phối hợp thuốc uống sulfamid với thuốc tiêm insulin. Thầy thuốc sẽ quyết định việc chọn thời điểm, chọn thuốc và liều dùng khi kết hợp.

Một số cách dùng các thuốc thuộc nhóm sulfamid đái tháo đường

* Với các thuốc thuộc nhóm thế hệ thứ hai (glibenclamid, glipizid, gliclazid):

– Về dược động học:

Cả 3 thuốc đều chuyển hóa hoàn toàn ở gan thành các chất có hoạt tính, đào thải qua đườn ruột, thời gian thải trừ không ảnh hưởng đến hiệu lực thuốc nhưng khác nhau về thời điểm đạt nồng độ đỉnh gây hiệu lực nên cũng khác nhau về thời điểm dùng (so với bữa ăn).

+ Glibenclamid: Sau khi uống 30 phút mới đạt được nồng độ cần thiết để có hiệu lực do đó phải dùng trước bữa ăn 30 phút (nếu dùng 3 viên/ngày thì thì 2 viên dùng trước bữa ăn trưa, 1 viên trước bữa ăn tối).

+ Glipizid: Sau khi uống thuốc đạt nồng độ cao và có hiệu lực ngay nên phải dùng ngay trước bữa ăn (liều 2,5 – 3mg, tối đa 40mg/ngày dùng ngay trước bữa ăn trưa và trước bữa ăn tối.

+ Gliclazid: Sau khi uống thuốc có hiệu lực ngay và kéo dài nên chỉ dùng ngày một lần ngay vào bữa ăn sáng để thuốc đảm bảo có hiệu lực trong 24 giờ (thông thường chỉ dùng đến liều 160mg/ngày, một lần, vào ngay bữa ăn sáng).

– Về tác dụng không mong muốn:

Gây tai biến hạ đường huyết: glipizid hiếm khi gây tai biến này, glibenclamid gây tai biến này ở mức nhiều hơn, còn gliclazid ở mức nghiêm trọng hơn.

Các tác dụng không mong muốn khác: Glipizid dùng nhiều năm vẫn có khả năng dung nạp tốt. Chưa gặp các tác dụng không mong muốn đáng kể, có thể chỉ gặp vài tác dụng không mong muốn nhẹ ở người già như nôn, đầy hơi, đau đầu, dị ứng da. Glibenclamid có thể gây tác dụng không mong muốn nhiều hơn glipizid như buồn nôn, đầy hơi, phát ban da, ban lan tỏa giống sởi, hiếm khi gây vàng da ứ mật. Gliclazid làm tăng enzym gan, trong một số trường hợp hiếm gặp hơn còn gây rối loạn tiêu hóa, rối loạn máu. Cả ba thuốc đều chưa có đủ dữ liệu về việc dùng cho người có thai cho con bú nhưng cũng chưa phát hiện thấy chúng gây dị tật thai.

* Với các thuốc thuộc nhóm thế hệ thứ ba (Glimepirid):

Glimepirid còn có cơ chế tác dụng ngoài tuyến tụy như sau: Cải thiện sự đáp ứng insulin của tế bào mô ngoại biên, làm giảm sự thu hồi insulin ở gan. Làm tăng nhanh sự chuyên chở chủ động của màng tế bào cơ và mỡ, do đó sẽ giới hạn việc sử dụng và kích thích thu hồi insulin. Làm tăng hoạt động của phospholipase C, có thể phối hợp với việc tạo mỡ tạo glycogen do tác động của thuốc trong tế bào mỡ và cơ biệt lập. Kết quả tổng hợp cuối cùng là làm giảm đường huyết.

sulfamid hạ đường huyết
Khi kết hợp sulfamid với một thuốc hạ đường huyết thuộc nhóm khác sẽ giúp tăng hiệu quả, giảm tác dụng phụ.

Glimepirid hấp thu hoàn toàn nhanh, đạt nồng độ đỉnh chỉ sau 2,5 giờ, thải trừ qua thận (khoảng 60%), qua phân (khoảng 40%). Chu kỳ bán hủy 5 – 8 giờ. Thức ăn ảnh hưởng đến tốc độ nhưng không ảnh hưởng đến mức độ hấp thu.

Glimepirid gây nguy cơ hạ đường huyết (2 – 4%) thấp hơn glibenclamid (20 – 30%). Tuy nhiên trong những tuần đầu điều trị cần theo dõi việc hạ đường huyết.

Glimepirid không gây tích lũy, có thể gây rối loạn tiêu hóa, hiếm khi gây giảm bạch cầu, tiểu cầu tán huyết, đôi khi có thể gây dị ứng.

Liều dùng mỗi ngày 1 lần (1 – 2mg), sau đó 1 – 2 tuần có thể tăng dần đến liều đủ hiệu lực.

Như vậy so các thuốc thuộc nhóm sulfamid đái tháo đường thế hệ 2 thì glimepirid có tác dụng đa năng hơn, ít độc hơn, ít tác dụng không mong muốn hơn, là thuốc được ưu tiên lựa chọn kết hợp với insulin trong trường hợp cần thiết.

DS. Bùi Văn Uy

Scroll to Top