13 đại dịch kinh hoàng làm thay đổi thế giới

Ở lĩnh vực bệnh truyền nhiễm thì đại dịch là một tình trạng tồi tệ nhất. Khi dịch bệnh vượt ra khỏi biên giới một quốc gia thì được xem như đại dịch. Khi con người di cư từ quốc gia này sang quốc gia khác, các thành phố mới được hình thành, kết nối thương mại và chiến tranh đã làm đại dịch có khả năng xảy ra nhiều hơn.

Từ dịch cúm Corona ở Vũ Hán, Trung Quốc đang diễn biến phức tạp khó lường, chúng ta cùng History.com nhìn lại những đại dịch lớn trong lịch sử nhân loại đã làm thay đổi thế giới.

Đại dịch ở Athens (Hy Lạp) vào năm 430 trước Công nguyên

Đại dịch được ghi nhận sớm nhất này xảy ra trong giai đoạn chiến tranh Peloponnesian (431 – 405 trước Công nguyên) giữa hai thành phố Athens và Spartans thuộc Hy Lạp cổ đại. Sau khi đi qua Libya, Ethiopia và Ai Cập, dịch bệnh lan đến thành Athens.

Có hơn hai phần ba dân số bị chết do dịch bệnh này khiến cho thành Athens bị thất thủ bởi quân Spartans. Các chuyên gia nghi ngờ đây là bệnh thương hàn, bởi các triệu chứng được các nhà sử học ghi lại người mắc bệnh có triệu chứng sốt, khát, chảy máu họng và lưỡi, đỏ da và tổn thương da.

vi khuẩn Salmonella typhi
Vi khuẩn Salmonella typhi (gây bệnh thương hàn) được cho là nguyên nhân gây ra đại dịch ở Athens (Hy Lạp)

Ngày nay, chúng ta biết rõ thương hàn là một bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn Salmonella typhi gây ra. Bệnh khởi phát đột ngột với sốt cao kéo dài, đau đầu, mệt mỏi, chán ăn, mạch chậm, táo bón hoặc tiêu chảy và ho khan. Tuy nhiên, cũng có trường hợp nhẹ hoặc không triệu chứng.

Bệnh thương hàn lây truyền do ăn phải thực phẩm, uống nước bị nhiễm khuẩn. Đây là đường lây quan trọng và thường gây dịch lớn. Ngoài ra, còn do tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân, người mang vi khuẩn qua chất thải, chân, tay, đồ dùng bị nhiễm khuẩn,… đường lây này thường gây dịch nhỏ, tản phát.

Đại dịch Antonine năm 165

Đại dịch Antonine từ năm 165 đến 180, còn được gọi là đại dịch Galen (tên của bác sĩ Hy Lạp sống ở Đế quốc La Mã đã mô tả bệnh dịch này). Đại dịch này đã được lực lượng quân đội La Mã đưa về từ các chiến dịch tại vùng Cận Đông.

Các học giả nghi ngờ nó là bệnh đậu mùa hoặc bệnh sởi nhưng nguyên nhân thực sự vẫn chưa được xác định. Dịch bệnh có thể đã lấy đi cuộc đời của một hoàng đế La Mã, Lucius Verus và là đồng nhiếp chính của Marcus Aurelius Antoninus, sau đó người ta đã lấy họ của ông này đặt tên cho đại dịch.

Theo nhà sử học người La Mã Dio Cassius (155 – 235), dịch bệnh này đã gây ra tới 2.000 ca tử vong mỗi ngày, tổng số ca tử vong được ước tính là 5 triệu người. Dịch bệnh đã giết chết một phần ba dân số ở một số vùng và tàn phá quân đội La Mã. Triệu chứng của bệnh được ghi nhận gồm sốt, đau họng, tiêu chảy và nếu người bệnh còn sống đủ lâu thì có thể gặp các vết thương tụ mủ ở da.

Đại dịch Cyprian năm 250

Tên của dịch bệnh được lấy từ tên của nạn nhân đầu tiên, đó là giám mục cơ đốc giáo ở Carthage (nơi được coi là trung tâm thương mại quan trọng nhất của Địa Trung Hải cổ đại và được cho là một trong những thành phố giàu có bậc nhất Thế giới cổ đại, ngày nay thuộc Tunisia).

Người mắc bệnh ghi nhận triệu chứng tiêu chảy, ói mửa, loét họng, sốt và hoại thư bàn tay, bàn chân. Người ta cho rằng nó có thể khởi đầu ở Ethiopia, lan đến Bắc Phi, vào Đế quốc La Mã rồi đến Ai Cập và phía Bắc.

Dịch bệnh tái phát 3 thế kỷ sau đó. Năm 444, dịch bệnh tấn công Anh Quốc làm vỡ hệ thống phòng thủ ở đây. Với các triệu chứng ghi nhận như đã nêu thì các nhà khoa học hiện đại cũng không chẩn đoán ra đây là bệnh gì.

Đại dịch Justinian năm 541

Bệnh xuất hiện đầu tiên ở Ai Cập lan đến Palestine, đế chế Byzantine (Đông La Mã) và sau đó là vùng Địa Trung Hải. Dịch bệnh buộc vua Justinian phải thay đổi kế hoạch mang đế chế La Mã trở lại và đã tạo ra cạnh tranh kinh tế to lớn. Sau hai thế kỷ thì dịch bệnh tái diễn đã giết chết 50 triệu người (26% dân số thế giới lúc bấy giờ).

Đại dịch Justinian
Tranh vẽ thể hiện sự tàn khốc của đại dịch Justinian năm 541

Quan điểm truyền thống cho rằng nguyên nhân của đại dịch Justinian là sự bùng phát của bệnh dịch hạch gây ra bởi vi khuẩn Yersinia pestis, tuy nhiên cho đến thời gian gần đây đã có những ý kiến nghi ngờ quan điểm này. Triệu chứng bệnh được ghi nhận là sự to ra của hạch lympho, lây truyền bởi bọ chét từ chuột mang mầm bệnh.

Bệnh phong (cùi) vào thế kỷ 11

Mặc dù bệnh phong được ghi nhận từ lâu nhưng nó trở thành dịch ở châu Âu vào thời Trung cổ, khiến người ta phải xây dựng hàng loạt các bệnh viện chuyên bệnh phong để thu dung một số lượng lớn người mắc bệnh.

Bệnh nhiễm trùng này tiến triển chậm, gây ra các tổn thương lở loét và biến dạng, bệnh phong cùi được tin là do Chúa Trời trừng phạt người bệnh. Lòng tin này đưa đến kỳ thị và xa lánh bệnh nhân.

vi khuẩn Mycobacterium leprae
Vi khuẩn Mycobacterium leprae gây bệnh phong

Ngày nay, chúng ta biết đây là bệnh Hansen hay bệnh hủi, cùi do vi khuẩn Mycobacterium leprae gây ra. Vì không có bào tử nên vi khuẩn này không lây qua vật chủ trung gian. Khi ở ngoài, nó chỉ tồn tại được một đến hai ngày.

Trước kia, bệnh phong là bệnh nan y (không có thuốc chữa), các triệu chứng của nó khi ở giai đoạn nặng rất đáng sợ (rụng ngón tay ngón chân, mặt mũi biến dạng) nên người ta rất khiếp hãi căn bệnh này. Ngày nay, bệnh phong có thể chữa khỏi một cách dễ dàng với kháng sinh mà không tốn kém nhiều chi phí.

Dịch bệnh thời kỳ giao lưu Columbus năm 1492

Theo sự xuất hiện của người Tây Ban Nha ở vùng Caribbean, các bệnh như đậu mùa, sởi và dịch hạch đã đi đến các quốc gia khác bởi người châu Âu. Do người bản xứ không tiếp xúc mầm bệnh trước đó nên các bệnh này đã gây nguy hiểm cho họ, với hơn 90% người mắc bệnh tử vong ở cả lục địa Bắc và Nam Mỹ.

Khi đặt chân đến hòn đảo Hispaniola, Christopher Columbus đã gặp người Taino với dân số 60.000 người. Đến năm 1548, dân số Taino giảm xuống dưới 500 do các dịch bệnh và kịch bản này lặp lại ở khắp châu Mỹ.

Vào năm 1520, đế quốc Aztec đã bị phá hủy bởi dịch bệnh đậu mùa từ những nô lệ châu Phi. Theo các nhà khoa học thì nhiều cái chết của 56 triệu người bản địa châu Mỹ vào thế kỷ 16 – 17 là do dịch bệnh.

Dịch bệnh tả đầu tiên năm 1817

Trận dịch tả đầu tiên bắt đầu ở Nga, sau đó có đến 7 trận đại dịch trong 150 năm, bệnh gây ra tình trạng viêm ruột và có 1 triệu người ở Nga bị chết. Bệnh lây truyền qua nước và thực phẩm bị nhiễm phân, vi khuẩn đã theo các người lính Anh Quốc trở về từ Ân Độ.

Đế quốc Anh và hải quân của họ đã làm lan truyền vi khuẩn dịch tả đến Tây Ban Nha, châu Phi, Indonesia, Trung Quốc, Nhật Ban, Ý, Đức và Mỹ. Vắc xin phòng bệnh được tạo ra vào năm 1885 nhưng dịch bệnh vẫn tiếp tục.

Đại dịch lần 3 của bệnh dịch hạch năm 1855

Dịch hạch gây đại dịch lần đầu vào năm 541 với tên gọi dịch Justinian, đến năm 1350 đã gây nên đại dịch lần thứ hai ở châu Âu với tên gọi Cái chết đen.

Đại dịch lần thứ 3 của bệnh dịch hạch bắt đầu ở Trung Quốc và lan đến Ấn Độ, Hồng Kông với 15 triệu người mắc. Lây nhiễm ban đầu do bọ chét trong vụ nổ hầm mỏ ở Vân Nam, Trung Quốc, dịch bệnh được xem là yếu tố trong cuộc nổi dậy Parthay và Taiping. Ân Độ đã đối mặt với tai họa khủng khiếp này và là lý do chống lại thực dân Anh. Dịch bệnh kéo dài đến 1960 khi số lượng ca bệnh giảm còn vài trăm.

Dịch bệnh sởi Fiji năm 1875

Sau khi Fiji nhượng lại cho Đế quốc Anh, trong bữa tiệc hoàng gia của nữ hoàng Victoria, dịch sởi đã đến đảo quốc này và khiến một phần ba dân số Fiji (khoảng 40.000 người) chết vì bệnh.

Cúm Nga năm 1889

Dịch bệnh cúm đầu tiên bắt đầu ở Siberia và Kazakhstan, lan đến Moscow và đến Phần Lan, sau đó là Ba Lan rồi cuối cùng đến phần còn lại của châu Âu. Trong năm sau đó, dịch bệnh lan đến Bắc Mỹ và châu Phi rồi kết thúc năm 1890 với 360.000 người tử vong vì cúm.

Cúm Tây Ban Nha năm 1918

Cúm Tây Ban Nha
Đại dịch cúm Tây Ban Nha năm 1918

Cúm bắt nguồn từ loài chim gây ra 50 triệu cái chết trên toàn thế giới, cúm Tây Ban Nha được giả thuyết bắt nguồn từ Trung Quốc rồi theo người lao động Trung Quốc đến Canada cũng như châu Âu. Ở Bắc Mỹ, cúm xuất hiện đầu tiên ở Kansas vào đầu năm 1918 và xuất hiện ở châu Âu vào mùa Xuân. Dịch cúm này xảy ra ở Madrid vào mùa Xuân năm 1918 nên được gọi là cúm Tây Ban Nha.

Cúm châu Á năm 1957

Bắt đầu ở Hồng Kông rồi lan sang Trung Quốc, sau đó đến Mỹ rồi đến Anh Quốc 6 tháng sau với 14.000 người chết. Một đợt bệnh tiếp theo vào đầu năm 1958 với khoảng 1,1 triệu người chết trên toàn cầu (riêng ở Mỹ có đến 116.000 người chết), vắc xin đã được tạo ra đưa đến hiệu quả trong khống chế dịch.

Dịch bệnh HIV/AIDS năm 1981

Được xác định đầu tiên năm 1981, AIDS đã phá hủy hệ thống miễn dịch của con người, làm người bệnh tử vong do các bệnh cơ hội. Nhiễm HIV gây ra sốt, đau đầu, nổi hạch. Người mang virus có tải lượng virus cao ở máu và dịch cơ quan sinh dục.

AIDS được phát hiện đầu tiên ở cộng đồng đồng tính nam ở Mỹ nhưng được tin là khởi phát từ virus loài tinh tinh Tây Phi vào những năm 1920. Bệnh lây truyền qua dịch tiết cơ thể, đến Haiti những năm 1960 và sau đó là New York, San Francisco những năm 1970. Việc điều trị đã đạt kết quả làm chậm sự phát triển của bệnh nhưng 35 triệu người trên thế giới đã chết vì AIDS kể từ khi được phát hiện lần đầu tiên.

TS.BS. Bùi Minh Trạng

Scroll to Top