Cây So đũa: Rau ăn và làm thuốc

Cây So đũa có tên khoa học là Sesbania grandiflora (L.) Poir., họ đậu (Fabaceae). Loại cây được trồng phổ biến ở nhiều nơi và có nhiều lợi ích, ngoài tác dụng làm thuốc chữa bệnh, các phần non của cây như hoa, lá và quả còn làm rau ăn. Lá làm thức ăn cho gia súc, nuôi cá và ủ phân xanh. Thân cây làm trụ cọc cho Hồ tiêu leo và làm giá thể trồng nấm Mộc nhĩ, Bào ngư.

Mô tả
So đũa là cây gỗ nhỡ, cao 4 – 6m, hoặc hơn; vỏ thân dầy, sần sùi. Lá kép hình lông chim chẵn, mọc so le, gồm 20 – 25 đôi lá chét hình trái xoan hẹp, dài 3 – 4cm, rộng 1 – 1,5cm. Hoa to, màu trắng hay hồng, mọc thành chùm ngắn ở nách lá, gồm 2-3 hoa dài 7 – 10cm, thõng xuống. Quả nang dài 30 – 35cm, rộng 7 – 8mm, như chiếc đũa thót lại ở hai đầu, dẹt, khoảng giữa các hạt hơi hẹp lại, nhưng không chia đốt. Hạt rất nhiều, hình thận, dẹt, dài 5mm, màu vàng sẫm đến nâu. Mùa hoa quả tháng 4-8.

Phân bố
Cây So đũa có nguồn gốc ở Ấn Độ và Malaysia, thường được trồng ở các nước vùng nhiệt đới châu Á làm cây cảnh vì có hoa đẹp. Ở Việt Nam, cây được trồng nhiều ở miền Trung trở vào, dọc theo bờ kênh, bờ ruộng, ven đường và quanh vườn.

cây so đũa

Cây So đũa

Thành phần hóa học
Lá So đũa chứa protein 8,4%, Ca 1,13mg%, P 80mg%, Fe 3,9mg%, Se, các vitamin A, B1, B2, B9, C và PP. Lá còn chứa iod 2,3 µg%, pectin 1,5% và chất đường là galactose, rhamnose và acid glucuronic. Hoa So đũa cũng chứa protein 1,8g%, các vitamin B1, C, PP và hai sắc tố có tác dụng chống ôxy hóa là agathin (màu đỏ) và xanthoagathin (màu vàng). Hạt So đũa chứa protein thô 36,5%, chất béo 7,4% và cacbohydrat toàn phần 51,6%.

Có tài liệu cho biết, lá và hoa So đũa còn chứa sterol, tanin và saponin. Những chất này có tác dụng làm giảm cholesterol và tăng cường hệ thống miễn dịch. Vỏ cây So đũa có chất gôm nhựa màu đỏ và tanin.

Tính vị, tác dụng
Lá So đũa có tác dụng thanh nhiệt, lợi tiểu. Lá nghiền nát làm thuốc đắp chữa bong gân, thấp khớp, sưng tấy, mẩn ngứa… Một loại trà làm từ lá So đũa được cho là có tính kháng khuẩn, chống giun và chống khối u.

Hoa So đũa là một loại rau đặc sản cao cấp, có thể bóp gỏi để ăn sống, nấu canh chua, ăn lẩu, hoặc muối dưa chua rất ngon. Hoa và lá non So đũa thường được sử dụng trong các món ăn hàng ngày của người dân Nam bộ. Ngoài ra, hoa So đũa khô (10 – 30g) sắc uống, có tác dụng nhuận tràng và tẩy; lá giã nát, vắt lấy nước, nhỏ mũi, để chữa sổ mũi, ngạt mũi.

Vỏ thân So đũa có vị đắng, hơi chát, được dùng làm thuốc bổ đắng, giúp tiêu hóa, chữa kiết lỵ, tiêu chảy, viêm ruột và viêm loét dạ dày. Vỏ cây So đũa giã nát, ép lấy nước, bôi chữa tưa lưỡi, loét miệng. Ở Việt Nam, vỏ cây So đũa cũng được sử dụng để điều trị bệnh kiết lỵ, tiêu chảy. Vỏ So đũa băm nhỏ, sắc đặc, để ngậm chữa đau răng, sưng lợi có mủ (thêm chút muối), ngậm 3-4 lần/ngày, mỗi lần khoảng 10 phút (kinh nghiệm ở Sóc Trăng).

Theo tài liệu nước ngoài, rễ So đũa làm thuốc chữa bệnh sốt rét, và làm một loại bột nhão đắp bên ngoài để điều trị thấp khớp, làm giảm đau.

tác dụng của cây so đũa

So đũa hoa hồng

Ở Ấn Độ, cây So đũa được sử dụng rộng rãi trong y học cổ truyền Ayurveda để điều trị nhiều loại bệnh, trong đó có bệnh phong, bệnh gút, thấp khớp và bệnh gan. Vỏ cây sắc uống trị đậu mùa, sốt, kiết lỵ, vết loét và viêm miệng. Lá cây dùng để điều trị chứng động kinh. Các nghiên cứu trên lâm sàng đã chứng minh tác dụng chống co giật rất hiệu nghiệm của lá So đũa. Nước chiết của hoa và lá So đũa là một vị thuốc để trị chứng sổ mũi và đau đầu, cảm cúm. Nước sắc của hoa dùng làm thuốc tẩy. Nhựa vỏ cây dùng làm thuốc săn da.

Ở Thái Lan, vỏ cây So đũa được dùng ngoài để cầm máu và làm săn da.

Ở Indonesia, lá cây So đũa giã nát, đắp chữa bong gân, sưng tấy. Nước sắc vỏ cây So đũa với liều nhỏ có tác dụng chữa kiết lỵ, tiêu chảy, liều cao gây nôn.

Những thông tin trên cho thấy cây So đũa đã được nhiều nước ở châu Á dùng làm thuốc để chữa nhiều chứng bệnh. Nhưng ở nước ta, tác dụng làm thuốc của cây này chưa được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu và chứng minh tác dụng của nó để làm ra thuốc mới. Cây So đũa dễ trồng, có thể cung cấp nguồn nguyên liệu làm thuốc khi cần.

TSKH. Trần Công Khánh

Menu