Bệnh Whipple nguy hiểm nhưng hiếm gặp nên dễ bỏ quên

Bệnh Whipple được mô tả đầu tiên vào năm 1907 và tên tác giả đã được đặt cho tên bệnh như hiện nay. Bệnh Whipple là một bệnh nhiễm trùng hiếm gặp (dưới 1/1.000.000 người) và phần lớn ảnh hưởng trên khớp và hệ tiêu hóa. Bệnh làm cho ruột không thể hấp thu thức ăn (mỡ, chất bột và dưỡng chất). Bệnh cũng có thể nhiễm trùng cơ quan khác như não, tim và mắt.

Mặc dù bệnh có thể điều trị hiệu quả bằng thuốc kháng sinh, nhưng, nếu không điều trị đúng, bệnh Whipple có thể nghiêm trọng hoặc đe dọa tính mạng.

Bệnh Whipple do vi khuẩn Tropheryma whipplei gây ra

Từ năm 1992, nhờ kỹ thuật xét nghiệm PCR người ta đã xác định được vi khuẩn gây bệnh là Tropheryma whipplei, đây là vi khuẩn hình gậy khá đồng nhất. Nhờ kính hiển vi điện tử quan sát thấy vi khuẩn có thể trung tâm được bao bọc bởi một màng bào tương ba lớp có tính chất của vi khuẩn Gram dương nhưng một số chuyên gia cho rằng một lớp vỏ bao quanh bào tương giống như ở vi khuẩn Gram âm.

Vi khuẩn gây bệnh làm tổn thương niêm mạc ruột non trước tiên, tạo thành các tổn thương nhỏ trong thành ruột. Vi khuẩn cũng gây tổn thương nhung mao (villi) lót thành ruột non.

Hiện vẫn chưa biết nhiều về vi khuẩn này, mặc dù chúng đã hiện diện trong môi trường nhưng các nhà khoa học không biết nó đến từ đâu hoặc nó lây bệnh cho người ra sao. Một số chuyên gia tin rằng người mắc bệnh có một khiếm khuyết di truyền ở việc đáp ứng của hệ miễn dịch nên khi tiếp xúc vi trùng thì mắc bệnh.

Hiện nay chẩn đoán bệnh dựa vào xét nghiệm vi thể với hiện tượng xâm nhiễm của các đại thực bào chứa các thể vùi khi nhuộm bắt màu với acid periodic schiff. Khi nhiễm bệnh sẽ có một số rối loạn hệ thống miễn dịch của cơ thể, có rất nhiều hiện tượng miễn dịch được nêu ra nhưng có phải do vi khuẩn hay không còn có nhiều ý kiến khác nhau.

bệnh whipple là gì

Vi khuẩn Tropheryma whipplei

Đối với những người nhiễm bệnh không được điều trị kháng sinh đặc hiệu thì có sự thoái biến trong tế bào của vi khuẩn, mật độ tương bào trong lớp lamina propria của ruột non bị giảm (ưu thế của tương bào sản xuất IgM so với tương bào sản xuất IgA).

Người ta cho rằng ở đây có sự bất lực của đại thực bào hoặc đơn bào đối với vi khuẩn xâm nhập gây ra một số hậu quả. Tổn thương quan sát dưới kính hiển vi thấy ở lớp lamina propria của tá tràng và hỗng tràng, tổn thương lớp niêm mạc ruột gây dày thành ruột, thành ruột phù nề và có những chỗ bị loét. Biểu mô bề mặt chứa nhiều tế bào lympho nằm trong lớp thượng bì, nhung mao ruột non bị thay thế bởi các đại thực bào bọt chứa các hạt nội bào tương có dạng hình liềm. Dưới kính hiển vi điện tử sẽ thấy vi nhung mao ruột ngắn lại, thiếu các men bờ bàn chải.

Yếu tố nguy cơ: do biết quá ít về vi khuẩn gây bệnh Whipple nên các yếu tố nguy cơ của bệnh chưa được xác định rõ ràng. Dựa trên các báo cáo, người ta cho rằng bệnh hay xảy ra ở đàn ông tuổi 40 – 60, người da trắng ở Bắc Mỹ và châu Âu, những người làm nông (hay tiếp xúc với chất thải).

Mặc dù là bệnh hiếm gặp nhưng tử vong do vi khuẩn này tiếp tục được ghi nhận, phần lớn do chẩn đoán trễ và chậm điều trị. Các trường hợp tử vong là do sự lan truyền nhiễm trùng đến hệ thần kinh trung ương gây những tổn thương không hồi phục.

Bệnh Whipple không có triệu chứng đặc trưng ở giai đoạn sớm

Bệnh Whipple diễn tiến rất âm thầm và có những đợt bộc phát cùng với lui bệnh. Ở giai đoạn toàn phát thì bệnh biểu hiện ở đường tiêu hóa nhưng trước đó thì lại biểu hiện do rối loạn cơ quan khác.

Tổn thương đường tiêu hóa: ban đầu các triệu chứng tiêu hóa rất nhẹ và kéo dài nhiều năm cho đến khi có biểu hiện đặc hiệu. Những triệu chứng này có thể là buồn nôn, nôn, chán ăn, sình bụng,… rõ ràng đây là triệu chứng không đặc hiệu gặp ở nhiều bệnh khác nhau của đường tiêu hóa cũng như ngoài đường tiêu hóa.

Nếu cho làm PCR tìm vi khuẩn thì có thể khám phá ra bệnh nhưng thường không ai nghĩ đến bệnh Whipple. Khi bệnh toàn phát thì những triệu chứng tiêu hóa càng nặng nề hơn kết hợp với giảm cân, đau bụng và tiêu chảy (phân có thể có mỡ). Khi bệnh toàn phát thì có sự hiện diện của máu trong phân (rất hiếm đại tiện ra máu nhìn thấy được).

Xét nghiệm trong giai đoạn này có thể khám phá ra tình trạng kém hấp thu, đó là giảm albumin máu, giảm cholesterol máu, hạ calci, kali máu, thiếu máu,… xét nghiệm có hiện tượng viêm mãn tính. Chụp X quang ruột non có thể ghi nhận được hình ảnh viêm ruột non không đặc hiệu, thành ruột dày, mất các nếp gấp niêm mạc. Cũng có thể nội soi tá tràng, ruột non để sinh thiết xét nghiệm tế bào học.

bệnh whipple

Hình ảnh vi thể tổn thương ruột ở bệnh Whipple

Tổn thương khớp: gặp trong 90% các trường hợp và xuất hiện trước khi toàn phát ở đường tiêu hóa. Biểu hiện là đau các khớp ngoại biên, có thể phối hợp với viêm cột sống dính khớp. Xét nghiệm kháng nguyên HLA B-17 dương tính trong một nửa các trường hợp.

Tổn thương thần kinh: có rất nhiều biểu hiện và thay đổi như lú lẫn, liệt mắt, rối loạn nhìn, teo dây thần kinh thị giác, tổn thương tủy,… tổn thương thần kinh được xem là tiên lượng xấu (có thể gây tử vong). Chụp cộng hưởng từ (MRI) có thể phát hiện ra các tổn thương ở não nhưng không đặc hiệu cho bệnh Whipple. Triệu chứng thần kinh ít khi biểu hiện trước triệu chứng của đường tiêu hóa.

Tổn thương tim mạch: có thể viêm màng ngoài tim hoặc viêm nội tâm mạc, cũng có thể gây ra các rối loạn nhịp tim do tổn thương cơ tim. Có thể gặp tình trạng viêm động mạch. Các biểu hiện triệu chứng tim mạch khó phát hiện và thường ghi nhận được khi mổ tử thi.

Tổn thương da và các cơ quan khác: làm da xạm màu, có những nốt xuất huyết, có thể bị tràn dịch màng phổi, viêm nhu mô thận, viêm giác mạc,… trong một nửa các trường hợp bệnh Whipple có triệu chứng sốt kéo dài. Với những triệu chứng nêu trên nếu xảy ra đơn độc thì rất khó để có thể nghĩ đến bệnh Whipple và vì thế việc chẩn đoán, điều trị sẽ muộn.

Bệnh điều trị hiệu quả bằng kháng sinh từ 1 - 2 năm

Như đã nêu thì việc chẩn đoán bệnh thường rất muộn do biểu hiện không đặc hiệu và thường lẫn trong các bệnh khác. Để giúp chẩn đoán sớm thì phải nghĩ đến bệnh này khi người bệnh có những triệu chứng đường tiêu hóa rồi cho làm các xét nghiệm. Hai xét nghiệm giúp ích là sinh thiết tá tràng và ruột non quan sát dưới kính hiển vi điện tử và dùng kỹ thuật PCR để xác định sự hiện diện của vi khuẩn Tropheryma whipplei.

Điều trị bệnh Whipple với kháng sinh đơn hoặc kết hợp, cần phải điều trị dài ngày, thường kéo dài từ 1 – 2 năm. Nhưng triệu chứng bệnh sẽ giảm nhanh trong vòng 1-2 tuần dùng kháng sinh.

Phần lớn người bệnh không có biến chứng thần kinh sẽ hồi phục hoàn toàn sau khi điều trị kháng sinh. Do thời gian điều trị kháng sinh lâu dài nên bác sĩ phải theo dõi tình trạng xuất hiện kháng thuốc ở người bệnh.

Trong phần lớn trường hợp, việc điều trị bắt đầu trong 2 – 4 tuần thuốc kháng sinh đường tĩnh mạch là ceftriaxon hoặc penicillin. Sau giai đoạn đầu tiên, người bệnh phải dùng sulfamethoxazol-trimethoprim (Bactrim) từ 1 – 2 năm. Tác dụng phụ của ceftriaxon và Bactrim gồm dị ứng, tiêu chảy nhẹ, buồn nôn hoặc nôn.

Một số kháng sinh khác cũng có thể dùng như doxycyclin uống kết hợp với thuốc kháng sốt rét hydroxychloroquin trong 1-2 năm. Doxycyclin và hydroxychloroquin cũng có tác dụng phụ như ăn kém ngon, tiêu chảy, buồn nôn, đau đầu, chóng mặt,…

TS.BS. Bùi Minh Trạng

Có thể bạn quan tâm:

Menu