Bệnh tự miễn là gì? Có nguy hiểm không?

Những đáp ứng không tương thích hay không đúng mục tiêu, khiến cho phản ứng của cơ thể bị sai lệch mà hậu quả là gây ra các bệnh ngày càng phổ biến.

Bệnh tự miễn là gì?

Cơ thể chúng ta thường xuyên tiếp xúc với những vật thể lạ như vi khuẩn, virus hay các kháng nguyên như bụi bặm hay lông thú. Một khi chúng xâm nhập vào cơ thể chúng ta thì hệ miễn dịch phát hiện và định vị chúng, sau đó gởi đội quân bạch cầu đến. Nhưng không như chúng ta tưởng, hệ miễn dịch không thể tiêu diệt chúng.

Theo TS. Gerard Ebert, Giám đốc Viện Pasteur Paris cho biết, vai trò của hệ miễn dịch chỉ là phát hiện các vật thể lạ và theo dõi chúng mà thôi. Hệ miễn dịch chỉ tiêu diệt chúng khi chúng có biểu hiện đe dọa thực sự, thí dụ như khi vi khuẩn sinh sôi hay khi một tế bào biến thành ung thư. Những đáp ứng miễn dịch này xảy ra mọi lúc mọi nơi trong cơ thể.

Tuy nhiên, hệ miễn dịch không phải là không thể có sai lầm. Trong một số trường hợp bẩm sinh di truyền, hệ miễn dịch lại quá nhạy cảm đối với những chất vô hại, nghĩa là hệ miễn dịch đã đáp ứng thái quá đối với những chất này.

Ở những nước phát triển, khoảng từ 15 – 30% dân số chịu đựng phản ứng này. Trong vòng 30 năm nay, tần suất gần như tăng gấp đôi và các dạng nặng do hen suyễn vì dị ứng tăng lên gấp 5 lần.

Có một dạng rối loạn chức năng của hệ miễn dịch thứ hai, được gọi là bệnh tự miễn (autoimmune). Bệnh xảy ra khi các bạch cầu không phân biệt được tế bào của mình và vật thể lạ nên chúng quay sang tấn công chính cơ thể mình.

bệnh tự miễn

Phản ứng tự miễn dịch này có thể xảy ra với bất kỳ người nào. Bình thường, ngay khi tạo ra các tế bào miễn dịch, bạch cầu sai lệch này có khả năng tấn công cơ thể hoặc tạo ra các kháng thể có thể hủy hoại tủy sống hay tuyến ức và chúng không đi vào máu lưu thông. Tuy nhiên, ở những người bị chứng bệnh tự miễn dịch thì cơ chế điều chỉnh không hoạt động và hệ miễn dịch tấn công cả cơ thể.

Các bệnh tự miễn dịch thường gặp

Ít nhất 80 bệnh tự miễn dịch đã được xác định cho đến bây giờ, với các triệu chứng rất khác nhau tùy theo cơ quan bị bệnh. Lấy một vài ví dụ, trong bệnh đái đường type 1, hệ miễn dịch tiêu diệt các tế bào beta của tụy tạng sản sinh ra insulin; còn trong bệnh xơ cứng rải rác (sclerose en plaques) thì tiêu diệt màng bảo vệ neuron; trong bệnh Crohn là niêm mạc ruột non; trong bệnh vẩy nến (psoriasis) thì các tế bào thượng bì bị tấn công, tạo ra một sự thay mới quá nhanh của da; trong bệnh viêm đa khớp dạng thấp thì chính các khớp bị tác động; còn trong chứng lupus thì tất cả các cơ quan đều có thể bị tổn thương.

2 yếu tố gây ra bệnh tự miễn

Trên 5 triệu người Pháp bị bệnh tự miễn dịch, đã tạo ra nhóm bệnh thứ 3 có tỉ lệ tử vong cao chỉ đứng sau ung thư và tim mạch. Mặc dù nguyên nhân chưa được biết rõ nhưng ưu tiên xuất hiện ở những người có yếu tố gen. Hiếm hoi thì một gen duy nhất bị tổn thương nhưng thực tế thì rất nhiều. Có khoảng 100 gen liên quan đến miễn dịch đã được xác định và điều đó giúp giải thích yếu tố gia đình của một số chứng bệnh.

Ngoài yếu tố gen, một yếu tố khác ngày càng trở nên quan trọng trong phản ứng thái quá của hệ miễn dịch: đó là khuẩn lạc ruột non. Hệ sinh thái này với hàng tỉ vi khuẩn, virus và vi nấm cư trú trong đường ruột, được tạo ra ngay lúc trẻ mới được sinh ra do tiếp xúc với các vi sinh vật ở âm đạo của người mẹ, rồi trong 3 tháng đầu đời bú sữa mẹ và do quá trình tiếp xúc với môi trường bên ngoài. Sự cân bằng của khuẩn lạc này là rất cần thiết cho chức năng của cơ thể và chức năng của hoạt động miễn dịch. Thực vậy, các công trình nghiên cứu gần đây cho thấy những đứa trẻ sống ở vùng nông thôn được tiếp xúc với thú nuôi và các mầm bệnh như bụi bặm có một khuẩn lạc ruột đa dạng hơn và cân bằng hơn so với trẻ ở thành thị. Ngoài ra, chúng ít bị các chứng dị ứng và hen suyễn hơn trẻ thành thị.

Các nghiên cứu cho thấy vi khuẩn trong hệ tiêu hóa tương tác với bạch cầu của chúng ta và tham gia huấn luyện chúng, nghĩa là tập cho chúng nhận diện các vật thể lạ. Hơn nữa, vai trò huấn luyện này không phải dành riêng cho các khuẩn ruột. Các khuẩn lạc của miệng, da và âm đạo cũng tham gia vào cấu trúc của hệ miễn dịch. Các vi khuẩn sống cộng sinh trong cơ thể cũng có thể gây ra những phản ứng miễn dịch để bảo vệ chúng ta đối với nhiễm trùng. Như vậy, các tế bào miễn dịch trao đổi hàng ngày với các khuẩn lạc khác nhau của chúng ta và tập xác định giữa các vi sinh vật, loại nào thực sự gây bệnh.

Nếu khuẩn lạc và hệ miễn dịch hoạt động liên kết chặt chẽ với nhau thì rối loạn chức năng của cái này sẽ ảnh hưởng đến cái kia. Như vậy, dị ứng hay bệnh lý tự miễn dịch có liên quan đến sự mất cân bằng của khuẩn lạc.

Bệnh tự miễn có chữa được không?

Thực tế đã cho thấy, những người mắc chứng bệnh tự miễn dịch có hệ khuẩn lạc nghèo nàn hơn so với đối tượng khỏe mạnh. Trong khuẩn lạc của người bệnh, vi khuẩn có lợi hiếm hơn trong khi các vi khuẩn gây bệnh lại rất nhiều.

Sự bất thường này cũng được nhận thấy ở những người đã mổ bắt con (cesarien) hay những người không được nuôi bằng sữa mẹ hoặc những người sử dụng quá nhiều kháng sinh trong thời kỳ thơ ấu hay những người có khẩu phần ăn quá giàu chất béo và đường trong khi lại quá ít chất xơ. Nhận xét này mở ra hướng mới trong điều trị và phòng ngừa. Phương cách tốt nhất là cấy ghép lại một khuẩn lạc mới cho người bệnh, đó là ghép phân, hiện mới ở mức nghiên cứu.

bệnh tự miễn có chữa được không

Viên “phân dược”: Viên thuốc này là một chế phẩm đông lạnh chứa các phân. Bệnh nhân uống và tiêu hóa viên thuốc này có thể được truyền khuẩn lạc lành mạnh của người cho. Cách cấy ghép phân bằng đường uống này hiệu quả đến 90% và đang nghiên cứu dùng cho bệnh nhân tự miễn dịch.

bệnh tự miễn là gì

Ngoài ra cũng có thể tái lập lại sự cân bằng khuẩn lạc nhờ vào việc ăn các thức ăn giàu vi khuẩn có lợi (được gọi là probiotic) như các chế phẩm lên men (kefĩr, yaourt, dưa bắp cải) hay một số thực phẩm chức năng.

Theo các thử nghiệm lâm sàng mới đây được thực hiện trên những bệnh nhân mắc các chứng bệnh như Crohn, viêm đa khớp dạng thấp hay chứng xơ cứng rải rác, thì probiotic kết hợp với các liệu pháp cổ điển có thể giúp làm giảm nhẹ các triệu chứng của bệnh. Về bệnh dị ứng, kết quả cũng đầy hứa hẹn. Nhóm nghiên cứu của GS. Antoine Magnan đã cho thấy việc sử dụng probiotic ở chuột mang thai phòng ngừa được chứng dị ứng ở chuột con.

Tiếp theo sau kết quả này, các công trình nghiên cứu khác được thử nghiệm trên lâm sàng ở thai phụ để đánh giá hiệu quả của probiotic trong phòng ngừa chứng viêm da dị ứng ở trẻ sơ sinh.

Sự điều hòa khuẩn lạc có thể trở thành một liệu pháp lý tưởng đối với những căn bệnh này, đặc biệt là phải cá nhân hóa probiotic cho từng bệnh nhân để sử dụng. Tuy nhiên để thực hiện được điều này, trước tiên phải xác định được nguyên nhân của từng bệnh dị ứng và tự miễn dịch, sau đó tái tạo trong phòng thí nghiệm, tạo môi trường cần thiết cho từng vi sinh vật để chúng phát triển. Nhưng đây là vật cản lớn chưa thể vượt qua được.

BS. Nguyễn Văn Thông

Menu