Bệnh tăng huyết áp ở người cao tuổi có gì khác?

Người cao tuổi cần cảnh giác khi huyết áp hạ xuống quá thấp và khi người bệnh bị hạ huyết áp khi đứng (hạ huyết áp tư thế). Ở 40% số người trên 65 tuổi, tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ mạch máu độc nhất. Muốn chẩn đoán bệnh phải đo huyết áp 3 lần khác nhau (trừ khi có cơn tăng huyết áp). Ngoại trừ những trường hợp cấp cứu, không vội điều trị tăng huyết áp ngay nếu mới chỉ dựa vào một lần đo huyết áp thấy cao. Mục đích điều trị là giảm tai biến mạch máu não và suy tim. Nếu hạ huyết áp xuống quá thấp còn nguy hiểm hơn cả khi không điều trị tăng huyết áp.

Có đúng là tăng huyết áp không?

Người cao tuổi có những đặc điểm khiến cho chẩn đoán tăng huyết áp gặp một số khó khăn:

– Các động mạch cánh tay bị cứng, khó ép bởi băng quấn cánh tay nên con số huyết áp sẽ cao hơn thực tế, đó là “tăng huyết áp giả”. Về mặt lý thuyết, thao tác osler có thể nhận biết hiện tượng này bằng cách bơm căng băng quấn tay lên cao hơn huyết áp tâm thu trong khi sờ động mạch cánh tay và động mạch quay (cổ tay). Thao tác này sẽ dương tính (nghĩa là huyết áp cao hơn thực tế) nếu các động mạch này vẫn đập thay vì chúng phải xẹp xuống (mạch không bắt được).

bệnh cao huyết áp của người già

Người cao tuổi có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến huyết áp

– Xơ cứng thành động mạch làm giảm độ nhạy huyết áp với những biến đổi huyết áp do stress, hoạt động thể lực. Điều này giải thích sự “chập chờn” của huyết áp ở người cao tuổi.

– Tăng huyết áp tạm thời trong quá trình hình thành tai biến mạch máu não.

Các bệnh kèm theo tăng huyết áp

Người cao tuổi hay mắc nhiều bệnh kèm theo ảnh hưởng đến điều trị tăng huyết áp.

Ba bệnh dễ gây hạ huyết áp khi đứng là: suy tĩnh mạch, bệnh Parkinson đang dùng thụốc L-dopa, bệnh trầm cảm đang dùng thuốc chống trầm cảm ba vòng. Cần thận trọng khi điều trị tăng huyết áp ở những bệnh nhân này.

Bệnh viêm động mạch các chi dưới: ở trường hợp này cần duy trì một độ chênh (gradien) áp lực giữa huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương để cung cấp máu cho các tiểu động mạch đầu xa. Bởi vậy phải giữ huyết áp tâm thu cao hơn bình thường vì chính đây là cơ chế bù trừ cho sự thiếu máu ở chi dưới.

Bệnh suy vành: ở trường hợp này lại phải hạ huyết áp xuống để tránh biến chứng phì đại thất trái có hại cho tuần hoàn vành, mặt khác làm giảm sức bóp của tim để tim bớt tiêu thụ oxy. Trái lại, không nên hạ quá mức huyết áp tâm trương (là huyết áp đưa máu đến động mạch vành) để bảo đảm cấp máu cho các động mạch này. Sẽ có hại nếu huyết áp tâm trương xuống dưới 85mmHg.

Huyết áp cao nên làm gì? Điều trị hay không điều trị?

Trường hợp dễ quyết định:

+ Không nên điều trị những trường hợp sau:

  • Bệnh nhân không bị tăng huyết áp thật sự, hoặc có một nguyên nhân nào đó có thể chữa được khiến cho huyết áp sẽ bình thường trở lại.
  • Điều trị có hại nhiều hơn lợi.

+ Nên điều trị những trường hợp sau:

  • Huyết áp lúc nào cũng rất cao.
  • Bệnh nhân ở độ tuổi 60 đến 75 – 80, khỏe mạnh, bị tăng huyết áp mức độ không nặng.

Trường hợp khó quyết định:

Bệnh nhân trên 80 – 85 tuổi, hoặc ở bất cứ độ tuổi nào, có nhiều bệnh kèm theo quan trọng.

Trước một bệnh nhân rất già (đại lão) có thể gặp hai tình thế sau đây:

+ Người bệnh vẫn được điều trị tăng huyết áp từ trước, nay có thể cứ tiếp tục điều trị.
+ Chỉ mới bị tăng huyết áp gần đây thì điều trị chưa chắc đã có lợi.

Với một người mắc nhiều bệnh, hàng ngày dùng nhiều thuốc nay lại dùng thêm một thuốc chữa huyết áp nữa thì chưa chắc đã tốt.

Mục tiêu điều trị

Giảm huyết áp tâm thu dưới 160mmHg, giảm huyết áp tâm trương dưới 95mmHg. Để tránh bị hạ huyết áp khi đứng nên kiểm tra huyết áp trong tư thế đứng. Với người còn tương đối trẻ và khỏe mạnh, không nên hạ huyết tâm thu dưới 130mmHg khi đứng, không nên hạ huyết áp tâm trương dưới 150mmHg ở người già, đại lão khi đứng. Không nên hạ huyết áp tâm trương dưới 85mmHg. Cần phải chấp nhận một mức độ tăng huyết áp nào đó (đo huyết áp khi nằm/ngồi) để tránh bị hạ huyết áp khi đứng.

Những thể thức điều trị

– Tránh bị hạ huyết áp khi đứng. Không cần kiêng ăn mặn. Nếu cần giảm bớt muối thì dùng thuốc lợi tiểu. Dùng băng thun ép cẳng chân cho những bệnh nhân bị suy tĩnh mạch.

– Những nguyên tắc kê đơn cho bệnh nhân không phải cấp cứu. Nên dùng thuốc hạ huyết áp với liều nhỏ nhất có hiệu lực. Nếu cần tăng liều thì tăng rất chậm. Bắt đầu dùng nửa liều (so với người trẻ), tăng liều dần mỗi hai hoặc ba tuần. Chỉ dùng một thuốc (liệu pháp một thuốc) nếu có thể được. Liều lượng cần thay đổi tùy theo sự dung nạp thuốc.

– Thường xuyên đánh giá lại kết quả điều trị. Nếu với liều nhỏ thuốc hạ áp mà công hiệu lại rất tốt thì cần phải xem lại chẩn đoán tăng huyết áp có đúng không. Trong những trường hợp có nguy cơ cao bị hạ huyết áp khi đứng (sốt có mất nước, chán ăn hoặc đi tiêu chảy, thiếu máu cấp, bệnh nhân phải nằm lâu) có thể tạm thời ngừng thuốc hạ huyết áp. Cuối cùng phải điều chỉnh thuốc theo thời gian: một bệnh nhân bắt đầu dùng thuốc hạ huyết áp lúc 70 tuổi thì khi đến 85 tuổi phải thay đổi liều lượng thuốc cho phù hợp với tuổi.

thuốc điều trị tăng huyết áp cho người già

Sau một thời gian, tùy theo tình trạng của người bệnh, bác sĩ sẽ có thể đổi thuốc điều trị tăng huyết áp

Thuốc điều trị tăng huyết áp cho người già

Người cao tuổi thường dùng 4 lớp thuốc hạ huyết áp sau: ức chế calci, lợi tiểu, ức chế men chuyển, chẹn bêta.

– Ức chế calci: (nifedipin, amlodipin,…). Dùng dạng giải phóng chậm. Tác dụng không mong muốn: phù chân (do giãn mạch), đau đầu, đỏ mặt,…

– Lợi tiểu: (thiazid, furosemid,…): công hiệu tốt dù dùng với liều nhỏ. Tác dụng không mong muốn: giảm kali, natri máu, dễ gây hạ huyết áp khi đứng,…

– Ức chế men chuyển (captopril, enalapril,…): công hiệu tốt. Tác dụng không mong muốn: ho khan kéo dài, đau đầu, mệt mỏi,…

– Chẹn bêta (propanolol, atenolol,…): công hiệu tốt. Tác dụng không mong muốn: hạ đường huyết, hen,…

Liệu pháp một thuốc hoặc hai thuốc? Lúc đầu dùng một thuốc liều lượng tăng dần. Nếu công hiệu tốt, tiếp tục điều trị. Nếu không công hiệu, dùng liệu pháp hai thuốc của hai lớp thuốc khác nhau.

Ba nguy cơ do hạ huyết áp quá thấp

– Hạ huyết áp khi đứng gây ngã làm cho bệnh nhân cảm thấy không an toàn khi đi và hạn chế tính tự lập của mình.

– Tai biến thiếu máu não do điều hòa lưu lượng máu não không ổn định.

– Tai biến mạch vành do huyết áp tâm trương giảm xuống quá nhiều.

GS. Phạm Gia Cường

Menu