Bệnh suy tĩnh mạch mạn tính chi dưới

Suy tĩnh mạch mạn tính chi dưới là bệnh rất thường gặp, có liên quan mật thiết đến lối sống. Bệnh là tình trạng suy giảm chức năng đưa máu trở về tim của hệ thống tĩnh mạch ở vùng chân dẫn đến hiện tượng máu ứ đọng gây ra những triệu chứng như nhức mỏi, nặng chân, phù chân, tê dị cảm, kiến bò, chuột rút ban đêm,… Biểu hiện thường gặp là các tĩnh mạch nông bị dãn, chạy ngoằn ngoèo nhìn thấy được dưới da.

Bệnh tiến triển chậm, không rầm rộ, hầu như không gây tử vong trừ khi có biến chứng. Tuy nhiên, theo thời gian bệnh ngày càng nặng hơn ảnh hưởng đến sinh hoạt, công việc, chất lượng cuộc sống và tăng gánh nặng cho ngành y tế. Việc điều trị đòi hỏi phải kiên trì, tốn kém và không phải lúc nào cũng được chữa khỏi.

Mặc dù các triệu chứng cơ năng như trên xuất hiện rất sớm nhưng người bệnh ít quan tâm và không đi khám để được điều trị. Trên thế giới, bệnh chiếm khoảng 70% dân số. Thống kê của Hội Tĩnh mạch học TP.HCM cho thấy người bị suy tĩnh mạch mạn tính chi dưới chiếm khoảng 5 – 8% số người trưởng thành. Các nhà khoa học dự đoán bệnh sẽ gia tăng do sự phát triển của nền kinh tế và sự thay đổi lối sống.

Vài nét về hệ thống mạch máu và tĩnh mạch chi dưới

Mạch máu trong cơ thể gồm 3 phần: động mạch đưa máu từ tim đến các cơ quan nuôi cơ thể, tĩnh mạch dẫn máu ngược từ cơ quan trở về tim và mao mạch giúp trao đổi chất.

Hệ tĩnh mạch chi dưới gồm 3 phần chính:

Tĩnh mạch sâu: vận chuyển 90% lưu lượng máu hai chi dưới.

Tĩnh mạch nông: vận chuyển 10% lượng máu còn lại.

Tĩnh mạch xuyên: vận chuyển máu từ tĩnh mạch nông vào tĩnh mạch sâu.

Trong lòng tĩnh mạch có các van một chiều giúp máu chảy từ dưới lên trên, từ nông vào sâu mà không cho máu chảy ngược lại. Khi các van này bị suy yếu, dòng máu bị trào ngược, ứ đọng ở phần thấp của chân gây nên tình trạng nặng chân, tê và phù chân, gây dãn các tĩnh mạch nông. Từ đó, hàng loạt các phản ứng vi mô xảy ra làm da bị sạm, chàm hóa và loét da do ứ đọng.

suy tĩnh mạch mạn tính

Các yếu tố nguy cơ

Nguyên nhân của bệnh chưa được xác định rõ ràng, tuy nhiên bệnh được xác định liên quan đến một số yếu tố nguy cơ gây tổn thương chức năng của các van một chiều của hệ tĩnh mạch như:

Tuổi cao: khoảng 50% người trên 50 tuổi mắc bệnh, tỉ lệ này tăng lên 70% ở tuổi 70.

Di truyền: nguy cơ mắc bệnh tăng lên 2 lần nếu có cha hoặc mẹ mắc bệnh, tăng gấp 4 lần nếu cả cha và mẹ đều mắc bệnh.

Giới tính: nữ gấp 3 lần nam, nguyên nhân được cho là có liên quan đến nhiều vấn đề như: ảnh hưởng của nội tiết tố lên thành tĩnh mạch, thói quen ít vận động, đứng lâu, đặc biệt là thai nghén. Khi mang thai, nhất là những tháng cuối thai kỳ, áp lực ổ bụng tăng lên rất cao, cản trở máu tĩnh mạch về tim gây nên tình trạng suy tĩnh mạch trước và sau sinh.

Lối sống: thói quen ăn ít chất xơ, táo bón làm tăng áp lực ổ bụng khi rặn, ít vận động, đứng hoặc ngồi lâu làm tăng áp lực lên tĩnh mạch.

Thể trạng béo phì, thừa cân cũng được cho là yếu tố nguy cơ.

Nằm bất động lâu ngày như người bệnh liệt 2 chi dưới, liệt nửa người, hoặc sau phẫu thuật vùng chậu, khớp,… hoặc các thuốc ngừa thai dạng uống làm tăng nguy cơ hình thành huyết khối tĩnh mạch sâu gây dãn các tĩnh mạch nông thứ phát.

Triệu chứng suy van tĩnh mạch chi dưới

Giai đoạn đầu: thường mờ nhạt và thoáng qua, người bệnh chỉ có biểu hiện đau chân, nặng chân, đôi khi chỉ có cảm giác mang giày dép chật hơn bình thường. Mỏi chân, phù nhẹ khi đứng lâu hoặc ngồi lâu, chuột rút vào buổi tối, cảm giác bị châm kim, dị cảm như kiến bò vùng cẳng chân về đêm, nhiều mạch máu nhỏ li ti nổi lên ở cổ chân và bàn chân. Các biểu hiện này thường không rõ ràng hoặc mất đi khi nghỉ ngơi nên người bệnh ít chú ý và dễ bỏ qua.

Giai đoạn tiến triển: bệnh sẽ gây phù chân, có thể ở mắt cá hoặc bàn chân. Vùng cẳng chân xuất hiện thay đổi màu sắc da do máu ứ ở tĩnh mạch lâu ngày. Các tĩnh mạch căng lên sẽ gây cảm giác nặng, đau nhức chân, máu thoát ra ngoài mạch gây phù chân. Hiện tượng này không mất đi khi nghỉ ngơi, nặng hơn có thể thấy các búi tĩnh mạch trương phồng nổi lên mặt da, xuất hiện các mảng bầm máu trên da…

Giai đoạn biến chứng: gây viêm tĩnh mạch nông, có huyết khối (máu cục) gây tắc các tĩnh mạch nông, có thể chảy máu do vỡ giản tĩnh mạch, nhiễm khuẩn vết loét của vỡ tĩnh mạch…

bệnh suy tĩnh mạch mạn tính chi dưới

Biểu hiện của suy giãn tính mạch chi dưới

Điều trị suy tĩnh mạch chi dưới mạn tính

Bao gồm điều trị không dùng thuốc, dùng thuốc và thủ thuật, phẫu thuật.

Các phương pháp điều trị bằng thuốc và phẫu thuật cần có ý kiến của các thầy thuốc chuyên khoa mạch máu hoặc nội khoa. Riêng điều trị không dùng thuốc thực chất là điều trị dự phòng nhằm hạn chế tôi đa sự tiến triển của bệnh lên những giai đoạn nặng hơn.

Chế độ ăn uống: hầu như không có bất cứ chế độ ăn đặc biệt nào dành riêng cho người bệnh suy tĩnh mạch mạn tính chi dưới. Người bệnh cần bảo đảm trong khẩu phần hàng ngày có đầy đủ chất xơ như trái cây, rau quả tươi, ngũ cốc..để tránh táo bón. Với người thừa cân béo phì cần có chế độ ăn để giảm, cân. Chú ý uống đủ nước hàng ngày (từ 1,5 – 2 lít nước/ngày).

Chế độ sinh hoạt, tập luyện:

+ Không mặc quần quá chật, đặc biệt quần bó sát vùng hông chậu và chân. Trước khi đi ngủ nên ngâm chân trong nước lạnh giúp co mạch nhằm tăng cường đẩy máu về tim.

+ Mang giày đế mềm và gót thấp để trọng lượng cơ thể khi đi sẽ dồn đều lên cả hai bàn chân.

+ Khi nằm phải kê chân cao bằng hoặc cao hơn ngực để tạo thuận lợi cho máu trở về tim qua đường tĩnh mạch. Nên lựa chọn ghế ngồi có chiều cao phù hợp để khi ngồi hai bàn chân đặt sát nền nhà để các khớp cổ chân, khớp gối và khớp háng được vuông góc, mặt dưới đùi vừa chạm mặt ghế để giảm tối đa lực ép, không cản trở lưu thông máu trong tĩnh mạch chạy mặt sau đùi. Tránh ngồi xổm, ngồi vắt chéo chân là những tư thế gây cản trở lưu thông dòng máu. Nên đi bộ thường xuyên để thúc đẩy máu lưu thông tốt, nếu công việc phải đứng nhiều thì thỉnh thoảng nên chạy tại chỗ để giảm tải lên hệ thống tĩnh mạch.

+ Tránh mang vác nặng thường xuyên vì sẽ làm máu dồn xuống chân nhiều.

+ Tập luyện thể dục thường xuyên. Các bài tập được khuyên là đi bộ, chạy bộ chậm, đạp xe, bơi lội, aerobic, khiêu vũ,… tránh các môn nặng như tập tạ, nhảy cao, nhảy xa, chạy tốc độ, quần vợt, bóng đá,…

+ Tuyệt đối không xoa dầu nóng vào chân, không ngâm chân trong nước nóng vì càng làm tĩnh mạch giãn nở, giảm khả năng vận chuyển máu về tim. Nếu quá nhức mỏi chân chỉ nên xoa nhẹ nhàng, không nên xoa bóp quá mạnh vì có nguy cơ làm bong các cục máu đông li ti trong tĩnh mạch chạy về gây thuyên tắc hệ tuần hoàn.

Cho dù người bệnh có thể thực hành các phương pháp này tại nhà, nhưng trong mọi trường hợp cần phải tham khảo ý kiến của các thầy thuốc chuyên khoa để có lời khuyên phù hợp cho từng người.

BS. Phan Minh Trí

Menu