Bệnh lỵ amip và áp xe gan do amip

Mắc bệnh lỵ amip (bệnh kiết lỵ) bởi ký sinh trùng amip, chủ yếu do người bệnh ăn, uống không hợp vệ sinh, đặc biệt ăn thực phẩm chưa nấu chín (tiết canh, rau sống…), uống nước chưa đun sôi mà trong đó bị nhiễm amip. Đây là một bệnh lây nhiễm cho nhiều người qua thức ăn, nước uống bị nhiễm ký sinh trùng amip và có khả năng gây biến chứng nguy hiểm, đe dọa tính mạng người bệnh nếu không phát hiện và chữa trị kịp thời.

Amip là gì?

Ký sinh trùng amip là dạng đơn bào (toàn bộ cơ thể chỉ một tế bào). Đơn bào amip (lỵ amip) có 3 dạng hình thể khác nhau. Dạng hình thể hay gặp nhất là thể hoạt động, ăn hồng cầu. Đây là dạng thể độc và gây bệnh vì khi chúng ăn hồng cầu, tiết ra độc tố làm hủy hoại tế bào của người (ở ruột làm tổn thương tế bào ruột, khi amip đến gan gây tổn thương gan, đến phổi làm tổn thương phổi…).

Dạng hình thể thứ hai là thể hoạt động minuta, loại này có thể thấy trong phân của người không bị bệnh lỵ amip. Loại này ít nguy hiểm vì chúng chỉ ăn vi khuẩn và chất cặn bã có trong lòng ruột.

amip

Amip thể hoạt động minuta nhìn qua kính hiển vi

Thể thứ ba là thể bào nang, khi gặp điều kiện không thuận lợi, amip thể hoạt động, ăn hồng cầu chuyển thành thể bào nang để tự bảo vệ bản thân mình. Về mặt dịch tễ học, thể bào nang là thể rất nguy hiểm vì chúng có sức đề kháng cao hơn thể không có bào nang và đồng thời chúng có khả năng phát tán mầm bệnh vào môi trường.

Sự xâm nhập của ký sinh trùng amip vào cơ thể người

Ký sinh trùng amip từ môi trường bên ngoài vào cơ thể người theo thức ăn, hoặc nước uống không đảm bảo vệ sinh hoặc do thức ăn bị ruồi, gián có mang ký sinh trùng amip. Khi vào đường tiêu hóa, amip sẽ gây bệnh cấp tính ở ruột và nếu không điều trị hoặc điều trị không dứt điểm, bệnh lỵ amip cấp tính (kiết lỵ) sẽ trở thành bệnh lỵ amip mạn tính.

Triệu chứng của bệnh kiết lỵ

  • Thể kiết lỵ điển hình: khởi phát thường đột ngột, xuất hiện đau bụng không có vị trí ổn định, đau quặn bụng dọc theo khung đại tràng, mót rặn và gây cảm giác phải đi đại tiện ngay nhưng rất khó khăn đi ngoài. Một số trường hợp có cảm giác buốt hậu môn, đại tiện khó khăn (không đại tiện được), nếu đại tiện được, phân không nhiều nhưng kèm theo có chất nhày như ở mũi và có máu tươi. Các triệu chứng này lặp đi lặp lại nhiều lần trong ngày gây mệt mỏi, khó chịu cho người bệnh. Nếu không phát hiện và điều trị đúng, kịp thời, bệnh sẽ dần dần chuyển thành mạn tính.
  • Thể bệnh mạn tính: bao gồm các biểu hiện của bệnh viêm đại tràng mạn tính như đau bụng liên tục hoặc từng cơn, tiêu chảy nhiều lần trong ngày và nhiều ngày. Thỉnh thoảng có cơn đau bụng, đầy hơi, khó chịu, đi lỏng hoặc phân nát. Các triệu chứng này thỉnh thoảng lại xuất hiện, nhất là khi ăn phải thức ăn lạ (chua, cay, tanh…).

Những hậu quả xấu khi mắc bệnh lỵ amip

Khi mắc bệnh kiết lỵ cấp, nếu không được điều trị sớm, đúng, bệnh sẽ chuyển thành mạn tính (dạng viêm đại tràng mạn tính) ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe người bệnh do rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy, mất nước, mất chất điện giải, nếu kéo dài có thể gây truỵ tim mạch, đặc biệt là trẻ nhỏ, người già yếu.

Tại ruột, mối nguy hiểm đầu tiên do bệnh kiết lỵ cấp là gây chảy máu làm mất máu, đồng thời ký sinh trùng lỵ amip chui vào trong niêm mạc ruột tạo thành các kén kích thích niêm mạc ruột gây đau, tiết chất nhày, chảy máu và nguy hiểm hơn là có thể tạo thành các ổ áp xe, nếu vỡ sẽ gây thủng ruột, từ đó gây viêm màng bụng và các cơ quan trong ổ bụng đe dọa đến tính mạng người bệnh (sốc nhiễm trùng). Khi amip vào máu đi đến gan gây áp xe gan. Đây là biến chứng hay gặp và cũng là một trong các biến chứng nguy hiểm nhất khi bị bệnh kiết lỵ.

Có hai loại áp xe gan do lỵ amip: áp xe gan lan tỏa tiền mủ và áp xe gan amip.

Loại áp xe gan lan tỏa tiền mủ khởi đầu là rất nặng do hiện tượng viêm nhiễm cấp tính, thường có sốt cao từ 38 – 39°c, rét run, đau nhiều ở vùng hạ sườn phải, lan lên vai.

Loại áp xe gan amip là loại tiến triển của áp xe gan lan tỏa tiền mủ dẫn đến, vì vậy, vẫn có sốt rất cao, toàn trạng gầy sút nhanh, các dấu hiệu nhiễm trùng, nhiễm độc độc tố rất rõ. Loại áp xe gan này thường có ổ áp xe ở bên trong sâu của tổ chức gan, người bệnh thấy đau nhiều ở một điểm nhất định của vùng gan. Do ổ áp xe thường xuất hiện mặt sau, phía bên phải của gan cho nên người bệnh thấy đau xuyên lên vai phải và mặt sau đáy ngực phải.

áp xe gan

Ổ áp xe gan do amip

Áp xe gan do amip cũng có thể vỡ vào màng phổi gây tràn dịch màng phổi phải và khi tràn dịch nhiều sẽ gây nên khó thở đột ngột, dữ dội. Đây là một cấp cứu nội khoa phải chọc màng phổi hút dịch càng nhanh càng tốt, nếu không, người bệnh sẽ bị chết vì choáng hoặc bị nghẹt thở.

Áp xe gan do amip cũng có thể vỡ vào màng tim khi vị trí áp xe nằm ở phân thùy 7-8 của gan hoặc ổ áp xe ở gan trái. Trong trường hợp này bỗng dưng bệnh nhân khó thở dữ dội, tím tái, khám tim (siêu âm tim) thấy các dấu hiệu của tràn dịch màng ngoài tim. Trong trường hợp này, phải chọc hút dịch màng ngoài tim cấp cứu, nếu không, bệnh nhân sẽ khó qua khỏi cơn nguy kịch.

Nếu áp xe gan vỡ vào bụng sẽ gây viêm phúc mạc cấp tính tương tự như áp xe thành ruột bị thủng (đã trình bày ở trên).

Ngoài ra, áp xe có thể vỡ vào ống tiêu hóa (dạ dày, đại tràng), hoặc mưng mủ kéo dài ở trong sâu của tổ chức gan làm cho người bệnh ngày càng suy kiệt và tử vong.

Nguyên tắc điều trị và phòng bệnh áp xe gan do amip

Khi bị đau tức vùng gan, sốt cao, rét run cần đến bệnh viện để được khám và xác định nguyên nhân và điều trị càng sớm càng tốt. Việc điều trị bệnh áp xe do amip cần kết hợp giữa điều trị nội khoa và ngoại khoa. Điều trị nội khoa nhằm tiêu diệt amip bằng các loại thuốc Tây y đặc hiệu và điều trị ngoại khoa nhằm lấy hết mủ do amip tạo ra và dẫn lưu mủ ra ngoài nhằm hạn chế các biến chứng.

Việc phòng bệnh lỵ amip liên quan chặt chẽ với việc làm tốt vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm. Mọi người cần dùng nước sạch để rửa thực phẩm, để đun, nấu. Không nên ăn rau sống, không uống nước chưa đun sôi, không ăn các loại thực phẩm chưa nấu chín hoặc thịt sống và các loại thực phẩm chưa nấu chín (tiết canh, nem chạo, nem chua, gỏi…). Tích cực diệt ruồi, gián bằng mọi biện pháp có thể.

PGS.TS.BS. Bùi Khắc Hậu

Menu