Bệnh alzheimer là gì?

Alzheimer là một bệnh tiến triển gây thoái hóa cả não bộ không hồi phục, gây nên chứng sa sút trí tuệ ở người lớn tuổi. Tổn thương tế bào thần kinh ở vỏ não và những cấu trúc xung quanh làm sa sút trí nhớ, giảm phối hợp vận động, giảm cảm giác, nhận cảm sai,… cuối cùng là mất trí nhớ và chức năng tâm thần.

Triệu chứng bệnh giai đoạn sớm chủ yếu là quên những sự việc vừa xảy ra và tiến triển đến suy giảm trí nhớ. Việc điều trị hiện nay chỉ cải thiện tạm thời triệu chứng, cũng như làm chậm tiến triển trong một thời gian.

Những giả thuyết nguyên nhân của bệnh Alzheimer

Yếu tố sinh học của não:

Dưới kính hiển vi điện tử, khi xem xét mô não về tế bào học thấy có tổn thương về mặt sinh học: sự thoái hóa của các sợi dây thần kinh, chỉ còn là những ống nhỏ ngăn cản vận chuyển chất dinh dưỡng nuôi tế bào thần kinh. Vấn đề này liên quan đến protein TAU.

Kế đến là sự xuất hiện của protein beta amyloid, do không hòa tan nên chúng tích tụ thành những mảng keo. Ở những người bị Alzheimer những chất này nằm xung quanh các tế bào thần kinh chết.

alzheimer là gì
Tổn thương thần kinh trong bệnh Alzheimer.

Ngoài ra, một loại protein có tên amyloid precursor (APP) cũng tồn tại ở đây giúp cho hoạt động hủy hoại tế bào thần kinh của beta amyloid. Sự có mặt quá nhiều của beta amyloid sẽ làm giảm chất trung gian dẫn truyền thần kinh acetylcholin (cần thiết cho quá trình nhớ và học hành). Beta amyloid cũng ngăn chặn sự vận chuyển các ion giúp cho quá trình truyền tín hiệu thần kinh.

Ngoài ra còn vai trò của một số chất protein khác như ERAB, mảng AMY, Par-4.

Sự oxy hóa và đáp ứng viêm:

Nhiều nghiên cứu đã cô gắng đi sâu vào tìm hiểu tại sao beta amyloid lại gây tổn thương não trong bệnh Alzheimer và đã phát hiện ra sự xuất hiện của các gốc oxy tự do khiến cho tế bào thần kinh bị tổn thương.

Các chất oxy hóa là sản phẩm của hầu hết các phản ứng hóa học trong cơ thể con người nhưng với một lượng dư thừa sẽ gây hại (bệnh mạch vành và ung thư). Chất oxy hóa cũng liên quan với đáp ứng miễn dịch đó là phản ứng viêm (men cyclooxygenase và prostaglandin làm tổn thương tế bào thần kinh).

Yếu tố gen: các gen đóng vai trò gây khởi phát muộn Alzheimer là ApoE2, ApoE3, ApoE4. Còn những đột biến gen PS1, PS2 hoặc gen kiểm soát APP sẽ làm cho bệnh Alzheimer khởi phát sớm hơn.

alzheimer bệnh
Bệnh Alzheimer có thể liên quan đến yếu tố gen.

Giảm hormon sinh dục nữ: sự giảm estrogen sau mãn kinh có liên quan rõ rệt đến giảm trí nhớ và sa sút tâm thần.

Yếu tố môi trường: nhiễm trùng, nhiễm kim loại (kẽm, đồng có tích tụ trong mô não người bị Alzheimer), môi trường điện từ trường, nhiễm độc,…

Một số yếu tố khác đã được xác định có liên quan Alzheimer: homocystein, thiếu hụt vitamin nhóm B, trầm cảm, chấn thương đầu, nhóm người có điều kiện kinh tế kém và học vấn thấp,…

Yếu tố nguy cơ của bệnh Alzheimer

Đây là bệnh gây tử vong ở người lớn đứng hàng thứ 4 hiện nay, có khoảng 4 triệu người Mỹ và hơn 8 triệu người trên thế giới mắc bệnh. Những yếu tố sau đây góp phần tăng khả năng mắc bệnh Alzheimer:

Tuổi: là yếu tố nguy cơ lớn nhất cho bệnh, bắt đầu từ tuổi 65 thì mỗi 5 năm có gấp đôi số ca bị Alzheimer. Vào tuổi 85 thì có phân nửa bị bệnh Alzheimer. Chẳng hạn, trong một nghiên cứu cho biết cứ hàng năm có 2/1.000 ca chẩn đoán bệnh mới cho người tuổi từ 65 – 74; 11/1.000 chẩn đoán bệnh mới cho người tuổi từ 75 – 84 và 37/1.000 chẩn đoán bệnh mới cho người tuổi trên 85.

Giới tính: phụ nữ dễ bị bệnh hơn nam giới.

Dân tộc: mỗi dân tộc có tần suất mắc bệnh Alzheimer khác nhau. Nhóm người da trắng ít mắc bệnh hơn người Mỹ gốc Phi hoặc Tây Ban Nha. Dân châu Á cũng ít mắc bệnh hơn nơi khác.

Môi trường: yếu tố môi trường cũng có tác động, thí dụ người Nhật sống tại Mỹ có tỉ lệ cao hơn hẳn so với người sống tại Nhật.

Cao huyết áp và tăng cholesterol máu: người có huyết áp tâm thu cao hoặc tăng cholesterol máu sẽ có nguy cơ cao bị Alzheimer.

Bệnh tăng huyết áp ở người cao tuổi có gì khác?

Hội chứng Down: người bị chứng này sẽ bị Alzheimer khi sống đến 40 tuổi và những bà mẹ sinh con bị Down sẽ có nguy cơ cao bị Alzheimer.

Triệu chứng của bệnh Alzheimer

Mất trí nhớ là triệu chứng sớm nhất của Alzheimer ở người già. Tuy nhiên triệu chứng này lại phổ biến ở tất cả người lớn tuổi. Trong bệnh Alzheimer có một số triệu chứng cần quan tâm:

– Mất trí nhớ hoàn toàn;

– Mất tập trung tư tưởng;

– Sụt cân không giải thích được;

– Khó khăn trong việc đi đứng.

Những triệu chứng này có thể gặp ở người khỏe mạnh bị lão hóa trong tình trạng: mệt mỏi, lo lắng nhiều, dùng rượu, lãng tai,… Tuy nhiên bác sĩ chuyên khoa có thể phân biệt được triệu chứng này trên người bình thường hay bệnh Alzheimer.

Chẳng hạn người già không bị giảm kỹ năng ngôn ngữ, người bị Alzheimer lại bị (khó khăn trong việc hoàn thành câu hoặc tìm một từ đúng, không khả năng hiểu nghĩa của từ, giao tiếp không hoạt bát); người già không giảm khứu giác nhưng người Alzheimer bị giảm nên hay sụt cân nhiều, đặc biệt ở phụ nữ; người già bình thường cũng giận dữ, buồn vui nhưng thoáng qua và có nguyên cớ còn người bệnh Alzheimer thì thay đổi tâm thần không dự đoán được, không hứng thú với xung quanh,…

Ngoài khám bệnh, bác sĩ sẽ chẩn đoán bệnh Alzheimer dựa trên điện não đồ, hình ảnh học (CT can, MRI, SPECT, PET,…), xét nghiệm máu, dịch não tủy, test thử khứu giác,…

Phòng bệnh Alzheimer

Dù có nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới nhằm làm giảm nguy cơ của bệnh Alzheimer nhưng đến nay người ta chỉ công nhận một số yếu tố nguy cơ đã nêu ở trên, do đó việc phòng ngừa cũng chỉ là hạn chế các yếu tố nguy cơ:

Liệu pháp hormon thay thế cả ở nam và nữ: nhiều nghiên cứu khắp thế giới cùng ghi nhận kết quả ở phụ nữ dùng liệu pháp thay thế hormon đều giảm được triệu chứng sa sút trí tuệ. DHEA (dehydroepiandrosteron) dùng chống lão hóa ở nữ cũng làm giảm nguy cơ Alzheimer. Ở nam giới thì liệu pháp thay thế bằng testosteron có hiệu quả giống nữ giới.

Thuốc kháng viêm không steroid: nhiều nghiên cứu cho thấy dùng các thuốc kháng viêm loại này sẽ chống lại sự tích tụ beta amyloid trong não. Các loại thuố ức chế COX-2 cũng cho thấy có hiệu quả. Tuy nhiên, các loại thuốc này nếu dùng lâu dài sẽ làm tăng nguy cơ viêm loét đường tiêu hóa và làm xuất huyết.

Statin: đây là thuốc làm giảm cholesterol máu. Một vài nghiên cứu cho thấy những người dùng statin giảm được 70% nguy cơ bị sa sút trí tuệ và hiện nay nhiều nghiên cứu đang được thực hiện để xác định giả thuyết này.

Chế độ ăn uống:

+ Ăn dầu mỡ: người Trung Quốc và Nigeria ăn ít mỡ thì tỉ lệ bị Alzheimer chỉ 1% ở tuổi 65 so với 5% ở Mỹ. Một nghiên cứu ở Hà Lan cho thấy có mối liên hệ giữa sa sút trí tuệ và chế độ ăn nhiều mỡ toàn phần, chất béo bão hòa và cholesterol. Mỡ dạng omega-3 có tác dụng chống lão hóa cho tế bào não. Người ta khuyến cáo năng lượng từ chất béo chỉ nên dưới 30% tổng nhu cầu hàng ngày.

+ Rau quả sậm màu: sẽ cố tác dụng bảo vệ não chống lại sự lão hóa.

+ Đậu nành: có chứa một thành phần giống estrogen. Trên động vật thí nghiệm cho thấy nó có tác dụng bảo vệ chống lại bệnh Alzheimer.

+ Rượu: nếu dùng lượng tương đối (1 đến 2 ly ngày) thì có tác dụng tốt bảo vệ não do nó kích thích phóng thích acetylcholin (chất dẫn truyền thần kinh bị khiếm khuyết trong bệnh Alzheimer). Tuy nhiên, nếu dùng quá liều lượng sẽ gây hại.

+ Folat và vitamin B12: sẽ làm giảm hemocystein (chất làm tăng nguy cơ Alzheimer và bệnh tim mạch).

+ Vitamin chống oxy hóa: chủ yếu là vitamin E và C, chống sự giải phóng gốc tự do làm tổn thương tế bào.

+ Tập thể dục: cho thấy làm giảm nguy cơ bị bệnh Alzheimer khi nghiên cứu trên số lượng lớn người lớn tuổi và trong thời gian dài.

Lợi ích của tập luyện thể dục cho người cao tuổi

+ Vắc xin: người ta dùng vắc xin kích thích cơ thể tạo ra kháng thể đặc hiệu tiêu hủy các phân tử beta amyloid. Đây là một cách phòng ngừa tốt nhất nếu nghiên cứu thành công.

TS.BS. Bùi Minh Trạng

Scroll to Top